Về đầu trang

Halo 3(Chi tiết)

Thảo luận trong 'Thư viện' bắt đầu bởi Kenny Phung, 27/6/09.

  1. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    [flash]http://static.mp3.zing.vn/skins/default/flash/player/mp3Player_skin2.swf?xmlurl=http://mp3.zing.vn/blog/?Mi9iMy8yYjM3YmNmNGIwMzU1NDA3MjYxYjgyNGVjZDQzOWI0MS5cUIbaBmUsICDN8VHJ1dGggYW5kIFJlY29dUngY2lsaWF0aW9dUngIFN1aXRlfE1hmUsICnRpWeBiBPJ0RvInagaMEWeBm5lWeBGwgJiBNaWNoYWVsIFNhWeBHZhdG9yaXx0mUsICnVl[/flash]​

    [​IMG]

    Phát triển: Bungie
    Phát hành: Microsoft Game Studios
    Hệ máy: Xbox 360
    Ngày phát hành: 25 - 9 – 2007
    ESRB: Mature (M)
    Thể loại: FPS

    Finish the fight ...

    Câu chuyện của Halo 3 tiếp nối diễn biến 2 phần trước (Halo 2 và Halo: Combat Evolved) kể chuyến hành trình trở về Trái Đất của Master Chief (SPARTAN John-117) để ngăn chặn Prophet of Truth khởi động The Ark, có như vậy để điều khiển các vòng tròn Halo, thứ đã huỷ diệt toàn bộ sự sống trong dải ngân hà. Trong một phần ngắn của game, Master Chief còn phải chống lại sự xâm nhập của loài Flood vào Trái Đất, thêm vào đó là cuộc giải cứu Cortana khỏi Gravemind. Giờ đây, Master Chief và Arbiter đã trở thành một bộ đôi ăn ý. Có thể nói đây là phần hay nhất trong 3 phần.

    [​IMG]

    Truyện tranh Halo: Uprising của tác giả Brian Michael Bendis do Marvel phát hành

    Thực ra, giữa Halo 2 và Halo 3 cốt truyện hoàn toàn chưa liền nhau. Do đó Marvel đã phát hành truyện tranh Halo: Uprising của tác giả Brian Michael Bendis, giải thích những sự kiện còn thiếu giữa 2 phần này.

    Halo 3 được phát hành sau một sự chờ đợi dài dai dẳng của các fan vào ngày 25 – 9 tại Bắc Mỹ và Úc, ngày 26 – 9 tại châu Âu và 27 – 9 tại Nhật Bản. Game được ESRB đánh giá là M (Mature) do có những cảnh máu me, bạo lực và sử dụng tiếng lóng.

    [​IMG]

    Halo 3 cũng đã đạt được thành công như các phần tiền nhiệm trước, nhưng lại có phần thành công hơn, phá vỡ kỉ lục của ngành công nghiệp game. 1,7 triệu bản đã được tiêu thụ tại Mỹ, nó đã được ghi nhận vào ngày đầu tiên phát hành. Sau 24 giờ phát hành, Halo 3 đã thu về 170 triệu $ và đã phá kỉ lục, con số này đã vượt quá sự mong đợi của Microsoft – 155 triệu $. Trong mỗi ngày, hơn 1,1 triệu người chơi Halo 3 trên Xbox Live. Sau một tuần phát hành, hơn 2,7 triệu người chơi – gần 1/3 số người tham gia Xbox LIVE vào thời điểm đó. Vào ngày 17 – 11 – 2008, Halo 3 đã bán được 8,8 triệu bản trên toàn thế giới.
     
    Last edited by a moderator: 27/4/10
  2. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    [​IMG]

    Halo 3 là câu chuyện cuối cùng cho chiến tranh Human – Covenant, chấm dứt cuộc chiến tàn khốc này. Như chúng ta đều biết, có chiến tranh ắt có mất mát, Halo 3 cũng không ngoại lệ, đi theo suốt game ta sẽ thấy những người đã đi theo cuộc hành trình của Master Chief từ đó giờ lần lượt hi sinh, thậm chí đến cuối game anh cũng không thể về tới Trái Đất (MIA – Miss in action). Đặc biệt là quang cảnh tang lễ của quân đội của cuối game, khi xem chúng ta không thể nào không khỏi xúc động. Phải nói rằng, Halo đã tạo dựng nên các nhân vật rất thực, rất có chiều sâu.

    [​IMG]

    Chạy lẹ lên ! Nó đuổi theo kìa !​


    Trong phần này, Master Chief và Arbiter đã trở thành một bộ đôi ăn ý, luôn sát cánh cùng nhau, vì vậy suốt game ta chỉ điều khiển Master Chief. So với Halo 2 thì giờ đây Halo 3 có rất nhiều điểm vượt trội hơn nhiều. Vẫn giữ được tính chất kịnh tính ngày nào, Halo 3 giờ đã có một kho vũ khí và phương tiện cơ giới còn đồ sộ hơn đứt cả Halo 2, thêm vào đó là sự xuất hiện của các trang bị phụ kiện cũng rất hữu dụng cho người chơi.

    [​IMG]

    Các bộ áo giáp của Spartan và Elite​


    Trong suốt quá trình chơi game, bạn còn có cơ hội thu thập các Skull để có thể thay đổi bộ áo MJOLNIR Mark VI sang những bộ giáp đẹp hơn, đặc sắc hơn.

    [​IMG][​IMG]

    Cảnh tượng làm ta nhớ đến bộ phim nổi tiếng “Flag of Our Father”​


    Halo 3 là phần cuối của cuộc chiến tranh Human – Covenant nhưng đó không là cái mà Bungie hướng tới. Cái mà họ muốn hướng tới là đấu trường mạng (Multiplayer) với hi vọng có thể truất ngôi các game đấu mạng khác. Các bản đồ Multiplayer giờ đây rộng hơn nhiều, các vũ khí, phương tiện và trang bị được bố trí rất nhiều. Môi trường trong game giờ đây rất tự do, đã không ít người chơi tận dụng nó để quay các đoạn phim rất nổi tiếng trên YouTube như Mythbuster, Halo Film, Music Clip, v.v... Đó là lý do tại sao có tới hơn 1,1 triệu người chơi Halo 3 trên Xbox Live mỗi ngày.

    [​IMG]

    Đồ hoạ mê ly​


    Đồ hoạ được cải thiện là một điều khiến cho các fan hài lòng. Giờ đây đồ hoạ của dòng game Halo dường như đã lên đến đỉnh điểm, giờ đây người chơi có thê ngây ngất say sưa ngắm nhìn môi trường bao la mà Bungie đã dựng nên, nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận không khéo đang mải ngắm cảnh mà bị một cú headshot thì toi đời. Ánh sáng giờ đây thể hiện rất tốt, dễ khi ta lại lầm tưởng là thật. Các bề mặt chi tiết rất mịn, không còn gồ ghề nhiều như Halo 2.

    Tiếp đó phải nói tới phần âm thanh, các đoạn nhạc nền vô cùng ấn tượng, tạo nên nhịp độ cao trong các trận chiến, nhiều khi nó còn làm “sung” hơn bình thường. Thêm nữa là phần lồng tiếng, các nhân vật được lồng tiếng rất tuyệt, qua giọng nói có thể miêu tả được tính cách. Có thể thấy rõ nhất là giọng trầm của Master Chief, qua đó ta thấy được anh là một người lính dày dạn kinh nghiệm, can trường, rắn rỏi và luôn bình tĩnh.

    [​IMG]

    Có thể nói, Halo 3 là một cú nhảy vượt bậc trong dòng game Halo, nó đã kế thừa những tinh hoa vốn có và đã có hững sự bổ sung, thay đổi đang được hoan nghênh của cộng đồng game thủ. Với những gì nêu trên, Halo 3 đã thực sự là một cơn sốt khi vừa mới phát hành. Tại Mỹ đã có nhiều học sinh xin nghỉ học vài ngày vào đúng ngày Halo 3 phát hành với lý do nghỉ bệnh để ở nhà ... chơi game. Thêm nữa, vào những ngày gần kề Halo 3 phát hành đã có rất nhiều người sẵn sàng xếp hàng rồng rắn đợi thật lâu, còn có những người dựng lều tại đó ngủ qua đêm để hôm sau sớm mua đĩa về.

    Halo 3 là một cú “hit” lớn trong ngành công nghiệp game. Nhờ đó Microsoft có thể tự tin với con át chủ bài Halo của mình. Và có thể đảm bảo được cho sự tiếp bước cho các phiên bản Halo sau này.

    [​IMG]

    Đánh giá:

    Gamepro: 5/5
    Team Xbox: 9,3/10
    IGN: 9,5/10
    Game Informer: 9,75
    1up: A-
    Gametrailers: 9,8/10
    Famitsu: 37/40
    X-play: 5/5
    Computer Videogames: 9,6/10
    Official Xbox Magazine (UK): 9/10
    Official Xbox Magazine (IT): 9.8/10
    Official Xbox Magazine (US): 10/10
    Official Xbox Magazine (Australia): 10/10

    Các giải thưởng:

    Halo 3 đã giành rất nhiều giải thưởng trong ngày đầu phát hành

    Spike TV Awards: Game chơi mạng hay nhất, Game có số người “nghiện” nhiều nhất, Game của năm 2007
    TIME: Game của năm
    Geezer Gamers: Game Geezer của năm, Game chơi mạng của năm
    Gametrailers: Game trên máy Xbox 360 hay nhất của năm 2007
    X-Play Presents "G-Phoria": Game của năm
    EDGE: Giải thưởng Edge về game có đổi mới ảnh hưởng nhất
     
  3. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    CỐT TRUYỆN

    [​IMG]

    Master Chief và Arbiter​


    Câu chuyện của chúng ta tiếp nối Halo 2 sau vài tuần, Master Chief dùng con tàu Dreadnought tiến về Trái Đât ngăn chặn Prophet of Truth tấn công Home World của loài người và bỏ Cortana lại phía sau (cô phải ở lại để điều khiển Delta Halo) Nhưng khi đáp xuống Trái Đất, anh đáp tại một khu rừng ở phía Đông châu Phi và đã bị thương. May thay, Sergeant Major Avery Johnson và một nhóm quân Marine đã cứu được anh, đi theo họ là Thel 'Vadam (còn gọi là Arbiter). Giờ đây Master Chief và Arbiter đồng hành cùng nhau.

    [​IMG]

    Căn cứ ngầm Crow's Nest của UNSC​


    Cứu được Master Chief, họ đi đến tiêu diệt một căn cứ của Covenant gần đó nhằm đảm bảo căn cứ ngầm Crow's Nest của UNSC không bị phát hiện. Tiêu diệt được xong, họ trở về căn cứ Crow's Nest và đã gặp Miranda Keyes.

    [​IMG]

    Portal dẫn đến vị trí của The Ark

    Thông qua Miranda, Master Chief mới hiểu rằng bọn Covenant tiến đến Trái Đất để tìm một thứ gọi là The Ark (còn gọi là Installation 00) thứ có thể điều khiển được các Installation khác. Ở Trái Đất có một cánh cổng dẫn đến The Ark (Có con tàu Dreadnought nó mở ra Slipspace để đến The Ark) Lúc này UNSC đã tìm thấy cánh cổng và mở cuộc tấn công vào đó. Nhưng mọi việc đã muộn, Prophet of Truth đã lên con tàu Dreadnought đi qua Slipspace tiến đến The Ark, các con tàu của Covenant cũng đi qua theo tên Prophet oh Truth.

    [​IMG]

    Mọi người đang xem tin nhắn Cortana để lại

    Lúc này mọi chuyện lại càng tệ hơn, một con tàu của Covenant bị nhiễm Flood đâm sầm xuống Trái Đất, cụ thể là thành phố Voi. Giờ đây nhiệm vụ của quân đội là ngăn cản sự lan rộng của loài Flood và họ đã thành công. Trong khi đó, khi Master Chief và Arbiter đi vào trong con tàu đâm xuống Trái Đất, họ đã tìm thấy một tin nhắn của Cortana nhưng nó lại bị lỗi. Thế rồi 343 Guilty Spark xuất hiện, giúp đỡ Master Chief sửa lại tin nhắn. Sau đó, Lord Hood, Miranda Keyes, Master Chief, Arbiter, Rtas 'Vadumee đều có mặt trên tàu Shadow of Intent cùng tin nhắn của Cortana. Qua đó họ biết được bọn Flood đang tiến đến The Ark.

    [​IMG]

    Cuộc không chiến tại The Ark, tương quan lực lượng 1 : 3

    Sau khi đã hiểu được sự việc, mọi người đã ra quyết định: chia lực lượng làm 2: một thì mở cuộc không chiến tấn công bọn Covenant, một thì bay xuống The Ark ngăn chặn Prophet of Truth khởi động The Ark.. Trong cuộc không chiến, dù bị áp đảo về lực lượng (1 chọi 3) nhưng thuyền trưởng tàu Shadow of Intent, Rtas 'Vadumee đã cố gắng chống chọi lại và giành được chiến thắng.

    [​IMG]

    High Charity nhiễm Flood đã làm một Slipspace đâm sầm vào The Ark​


    Còn ở dưới The Ark, Master Chief đang cố gắng hạ tấm khiên năng lượng bao quanh trung tâm The Ark thì bất ngờ High Charity đã làm một Slipspace đâm sầm vào The Ark. Từ đây bọn Flood từ trong High Charity tràn ra ngoài. Mọi việc càng trở nên khó khăn, một mặt phải mau chóng ngăn chặn Prophet of Truth khởi động The Ark, một mặt lại phải chống chọi với lũ Flood.

    [​IMG]

    Arbiter xử tử Prophet of Truth

    Nhưng xui cho lúc này, Prophet of Truth đang bắt giữ Johnson và chuẩn bị khởi động The Ark. Ngay lúc đó Miranda lái chiếc Pelican đâm sầm vào Prophet of Truth. Nhưng sau đó chính tay hắn đã bắn cô, Miranda đã hi sinh. Sau đó Master Chief và Arbiter cũng đã đến đó, có bọn Flood đi theo nhưng chúng không tấn công 2 người, bởi lúc này kẻ thù chung của cả 2 là tên Prophet of Truth. Hắn ta đã bị nhiễm Flood, Arbiter đã dùng Energy Sword đâm hắn, phe Covenant từ đây đã sụp đổ.Họ cũng đã phát ra thêm rằng: The Ark có thể xây dựng lại các Installtion khi chúng bị phá huỷ.

    [​IMG]

    Cortana cho Master Chief xem Index của Installation 04 trước đây

    Tiếp đó, Master Chief đi vào High Charity nay đã bị nhiễm Flood tìm kiếm Cortana. Khi kiếm được cô, Master Chief hỏi cô về Index cô có được ở Installation 04 đầu tiên trước kia, bởi theo như tin nhắn của Cortana thì cách để tiêu diệt bọn Flood khi chúng đã lây lan sang cả Installation 04 (cái thứ 2, được The Ark xây dựng lại) và công trình này hiện chưa hoàn thành.

    [​IMG]

    Installation 04 (II)

    Master Chief, Johnson, Cortana cùng Arbiter bay đến Installation 04 (II), đi tìm Control Room để kích hoạt cũng như đồng thời phá huỷ vòng tròn này. Khi Johnson đưa Cortana đến bảng điều khiển thì 343 Guilty Spark đã giết chết anh, bởi họ có ý định phá huỷ thứ mà nó bảo vệ. Master Chief đã buộc lòng phải huỷ diệt 343 Guilty Spark và đã khởi động, phá huỷ Installation.

    [​IMG]

    The Ark và Installation 04 (II) đang tự huỷ

    Giờ đây Installation 04 đã tiêu diệt hết bọn Flood và nó tiến hành tự huỷ. Vì công trình này chưa xong nên khi phá huỷ nó cũng đã gây ảnh hưởng thiệt hại đến The Ark. Master Chief, Cortana và Arbiter cố gắng chạy thoát khỏi Installation 04 bằng con tàu Forward Unto Dawn. Nhưng rồi con tàu đó đã gãy đôi, một nửa có Arbiter thì bay xuống biển ở Trái Đất và đã được cứu, một nửa kia có Master Chief và Cortana bị trôi dạt đến một hành tinh lạ (MIA – Miss in action)

    [​IMG]

    Cái bắt tay giữa Lord Hood và Arbiter​


    Cuối cùng tại nơi mà Prophet of Truth đã mở Portal đi đến The Ark, Lord Hood đã cho xây đài tưởng niệm và tổ chức tang lễ của quân đội để tưởng nhớ những người đã hi sinh trong cuộc chiến Human – Covenant, dự buổi lễ có cả Arbiter. Mặc dù ông không tha thứ Arbiter về những gì Covenant đã làm nhưng ông rất cảm ơn Arbiter vì đã sát cánh chiến đấu cùng Master Chief cho đến khi kết thúc. Arbiter cùng Rtas 'Vadumee trở về hành tinh quê hương của mình.
     
  4. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    NHÂN VẬT

    UNSC

    Master Chief (John 117)

    [​IMG]

    Tên: John (Không biết họ)
    Ngày sinh: Năm 2511
    Quê nhà: Hành tinh Eridanus II
    Chủng loài: Human – con người
    Giới tính: Nam
    Chiều cao: 6ft 10in (2,08 m) khi mặc bộ giáp MJOLNIR là 7,2 ft (2,2 m)
    Màu mắt: Nâu
    Màu tóc: Nâu
    Đặc điểm: Có một thần kinh Spartan (Luôn bình tĩnh, giải quyết sự việc nhanh chóng)
    Số hiệu Spartan: 117
    Nơi phục vụ: UNSC Navy
    Chức vụ: Master Chief Petty Officer, Master Chief Petty Officer of the Navy
    Nhiệm vụ: Chỉ huy và tấn công


    Vị anh hùng của chúng ta, thật sai sót khi không nhắc đến anh. Anh đã tham gia chiến đấu từ đầu đến cuối cuộc chiến Human - Covenant. Được bọn Covenant sợ hãi gọi bằng cái tên “Vadum” và “Demon”. Anh được huấn luyện trong dự án Spartan II, trưởng dự án là tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey nhằm tạo ra những siêu chiến binh có sức dẻo dai và bền bỉ trong cuộc chiến, thêm vào là kĩ năng chiến đấu tuyệt vời. Anh luôn đồng hành cùng Cortana, vì lý do đó anh rất tin tưởng vào Cortana. Lord Hood đã có lần hỏi khi anh có ý định cứu Cortana “Trái Đất, đó là tất cả những gì con người còn. Anh lại tin tưởng Cortana đến thế sao ?” “Vâng, thưa ngài” Nhưng tiếc thay, vị anh hùng của chúng ta lại không thể về được Trái Đất, anh đã ở trong phần còn lại của con tàu Forward Unto Dawn và ngủ đông cùng Cortana, cả hai đã vào tình trạng MIA – Mis in action (Mất tích trong chiến tranh) Lần chót là ta thấy cả hai trôi đến một hành tinh lạ.

    Cortana

    [​IMG]

    Năm bắt đầu phục vụ: Khoảng 2548
    Giới tính: AI nữ
    Mô tả: Cao và mảnh dẻ, cùng với mái tóc ngắn trong Halo: Combat Evolved và dài hơn ở Halo 2 và Halo 3
    Màu sắc: Bình thường là xanh dương và tím, xanh lá ở trong trung tâm điều khiển Installation 04, hồng và xanh lá khi tức giận, vui vẻ khi màu hồng
    Nơi phục vụ: UNSC
    Nhiệm vụ: Phần mềm để xâm nhập hệ thống, hỗ trợ các Spartan


    Cô là một trí trông minh nhân tạo (AI) Được tạo ra từ bản sao điện tử bộ não của tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey nổi tiếng, có 20 bản sao được tạo ra, nhưng chỉ có một là sống sót, và nó đã được tạo ra Cortana. Cô luôn là người đồng hành cùng Master Chief và đã có lần cô cứu nguy cho Master Chief. Hai người đã lần đầu gặp nhau ở trận chiến tại Reach. Như đã nói, cô rất được Master Chief tin tưởng. Dù cô chỉ là nhân tạo, nhưng sâu thẳm trong cô vẫn có được cảm xúc của một con người, đặc biệt là của một người phụ nữ. Suốt game, ta thấy được rằng cô đã có một tình cảm với Master Chief. Khi cả hai đã rơi vào tình trạng trôi dạt vô định trong vũ trụ, Master Chief bước vào phòng ngủ đông, Cortana nói “Tôi sẽ rất nhớ anh” nhưng cô đã nhận được câu đáp trả “Đánh thức tôi dậy, khi cô cần đến tôi.” Từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, cả 2 vẫn đồng hành cùng nhau.

    Sergeant Major Avery Junior Johnson

    [​IMG]

    Tên thật: Avery Junior Johnson
    Ngày sinh: Năm 2470
    Ngày mất: Ngày 3 tháng 3 năm 2553
    Quê nhà: Thành phố Chicago, Hoa Kỳ, Trái Đất
    Chủng loài: Human – con người
    Giới tính: Nam
    Chiều cao: 6ft 4 (1.94 m)
    Màu mắt: Nâu
    Màu tóc: Đen
    Nơi phục vụ: UNSC Marine Corps
    Chức vụ: Sergeant Major (Thượng Si)


    Cũng là một người đồng hành cùng Master Chief nhưng không luôn luôn như Cortana. Nhập ngũ từ năm 19 tuổi, ông đã chứng tỏ mình là một người lính giỏi. Ông đã từng được huấn luyện trong Naval Special Warfare Command. Thêm nữa là ông đã tham gia chương tình SPARTAN I “Orion” Group, mặc dù cũng là chương trình Spartan nhưng vì là lần đàu tiên nên áo giáp MJOLNIR chưa được phát triển, ông vẫn mặc các bộ giáp của lính bình thường. Qua chương trình đó, ông được biết đến như người đã bị Flood tấn công nhưng không bị lây nhiễm trong Halo: Combat Evolved. Tuy nhiên, trong Halo 3 ông đã hi sinh, bị 343 Guilty Spark giết. Chúng ta cũng sẽ nhớ đến ông như một người lính can trường, dày dạn kinh nghiệm và vui tính.

    Miranda Keyes

    [​IMG]

    Tên thật: Miranda Keyes
    Con gái của Jacob Keyes
    Ngày sinh: Không rõ ràng, chỉ biết giữa năm 2524 và 2527
    Ngày mất: Năm 2553
    Quê nhà: Trái Đất
    Chủng loài: Human – Con người
    Giới tính: Nữ
    Chiều cao: 5ft 10in
    Màu mắt: Xanh lục
    Màu tóc: Nâu
    Nơi phục vụ: UNSC, UNSC Navy
    Chức vụ: Lieutenant Commander (Chỉ huy trung uý) chỉ huy tàu UNSC Frigate In Amber Clad


    Cô là con gái của thuyền trưởng Jacob Keyes quá cố, ông là thuyền trưởng tàu UNSC Pillar of Autumn, hi sinh khi bị Flood tấn công biến thành Proto-Gravemind trong cuộc chiến tại Installation 04 (Halo: Combat Evolved) Mang danh là con gái Jacob Keyes, cô đã không làm thất vọng mọi người. Bằng sự thông minh vốn có của mình, cô đã trở thành một bông hồng của UNSC và vươn lên trở thành chỉ huy tàu UNSC Frigate In Amber Clad, một chức vụ tương xứng với cha cô. Cô tham gia đồng hành cùng Master Chief từ Halo 2. Qua 2 phần, ta thấy cô rất mạnh mẽ và độc lập, cụ thể nhất là việc một mình cô lái chiếc Pelican đâm sầm vào Prophet of Truth giải cứu Johnson, nhưng không ngờ Prophet of Truth đã giết được cô ngay lúc đó. Chúng ta sẽ nhớ mãi cô, một bông hồng gan dạ, cứng rắn mà cũng không kém phần xinh đẹp, niềm tự hào của UNSC.

    Fleet Admiral Sir Terrence Hood (Lord Hood)

    [​IMG]

    Ngày sinh: Năm 2492
    Quê nhà: Trái Đất
    Chủng loài: Human – Con người
    Giới tính: Nam
    Chiều cao: 6ft 1
    Màu mắt: Xanh dương
    Màu tóc: Trắng
    Nơi phục vụ: UNSC, UNSC Navy
    Chức vụ: Thượng tướng hải quân


    Ông là chỉ huy của UNSC, sĩ quan đô đốc của UNSC Navy và là sĩ quan chỉ huy của UNSC Home Fleet. Ông xuât hiện từ tiểu thuyết Halo: First Strike. Trong Halo 3, ông là chỉ huy lực lượng phòng vệ Trái Đất. Vì lực lượng của loài người không còn nhiều và đều có chung kẻ thù với Covenant Separatists nên ông đã cùng hợp tác với họ nhưng trong ông vẫn không hài lòng, an tâm về điều này. Đến khi chiến tranh kết thúc, ông vẫn không thể tha thứ cho Covenant Separatists vì trước đây những gì Covenant gây ra cho con người (Covenant Separatists trước kia vẫn theo Prophet of Truth, tiêu diệt con người) nhưng ông vẫn cảm ơn vì đã sát cánh cùng họ chiến đấu. Đặc biệt, thật bất ngờ khi ta biết được người lồng tiếng cho Lord Hood chính là diễn viên Ron Perlman từng thủ vai Hellboy trong Hellboy và Hellboy: The Golden Army.
     
    Last edited by a moderator: 6/7/09
  5. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    COVENANT SEPARATISTS

    Thel 'Vadam (Arbiter)

    [​IMG]

    Tên thật: Thel 'Vadam
    Quê nhà: Sanghelios
    Chủng loài: Sangheili (UNSC gọi là Elite)
    Giới tính: Nam
    Chiều cao: 8ft 6in
    Màu mắt: Cam
    Nơi phục vụ: Covenant, sau đó là Covenant Separatists
    Chức vụ: Arbiter (Thẩm phán)


    Từng là một Supreme Commander trong quân đội Covenant nhưng sau đó bị tước bỏ bởi thất bại ở Installation 04. Sau này ông mới biết được sự thật về các Installation và sự sai lầm khủng khiếp về The Great Journey, anh ta cùng Rtas 'Vadum lập thành một phe mới: Covenant Separatists chống lại các Prophet. Trong Halo 3 anh là người đồng hành cùng Master Chief trong các trận chiến. Đến cuối game, giữa anh và Lord Hood đã có một cái bắt tay hoà bình chấm dứt cuộc chiến khủng khiếp nhất của loài người: chiến tranh Human – Covenant. Dù không được Lord Hood tha thứ như đã nói, nhưng ông vẫn được Lord Hood cảm ơn và được xem như một anh hùng.

    Rtas 'Vadum

    [​IMG]

    Tên thật: Rtas 'Vadum
    Quê nhà: Sanghelios
    Chủng loài: Sangheili (UNSC gọi là Elite)
    Giới tính: Nam
    Chiều cao: 8ft 6in
    Màu mắt: Xanh lục trong Halo 2, cam trong Halo 3
    Nơi phục vụ: Covenant, sau đó là Covenant Separatists
    Chức vụ: Thuyền trưởng tàu Shadow of Intent, trưởng hạm đội Fleet of Retribution


    Còn được mệnh danh là gã nửa hàm. Ông là thuyền trưởng tàu Shadow of Intent có kích thước như Truth and Reconlization trong Halo: Combat Evolved, đồng thời là lãnh đạo loài Sangheili (UNSC gọi là Elite) chống lại Prophet of Truth. Trong Halo 2, ông đã gặp phải một cú sốc lớn trong đời khi đã tiêu diệt một trong những chiến hưu thân cận của mình: Sesa 'Refumee. Đến Halo 3, ông đã cùng UNSC hợp lực chống lại Prophet of Truth. Trong Halo 3, ta thấy được ông là một người lãnh đạo rất giỏi, đồng thời cũng rất kiên cường. Bằng chứng là dù tương quan lực lượng ít hơn 1 : 3 nhưng ông vẫn lãnh đạo chiến thắng trận không chiến tại The Ark.

    COVENANT LOYALISTS

    High Prophet of Truth

    [​IMG]

    Ngày mất: Mùa đông năm 2552
    Chủng loài: San 'Shyuum (UNSC gọi là Prophet)
    Giới tính: Nam
    Chiều cao: Gần 7ft 2in
    Màu mắt: Nâu
    Màu tóc: Nâu
    Nơi phục vụ: Covenant High Council, Covenant Loyalists
    Chức vụ: Hierarch (Tạm dịch là Tổng giám mục của Covenant)


    Lão là kẻ thù của UNSC và Covenant Separatists. Ở Halo 2, sau cái chết của Prophet of Mercy và Prophet of Regret chết, hắn trở thành kẻ đứng đầu Covenant Loyalists. Hắn luôn thúc ép bọn Covenant phải mau chóng đạt được thứ mà hắn tôn thờ: The Great Journey. Việc người Forerunner xưa kia đã khởi động các Installation để tiêu diệt loài Flood cũng đã gây ra sự diệt vong cho họ đã khiến cho Prophet of Truth nghĩ đó là The Great Journey (Chuyến du hành vĩ đại) Dù hắn đã biết chính con người mới là chủng loài gần với người Forerunner nhất, nhưng hắn sợ khi biết được điều này bọn Covenant sẽ sang tôn thờ con người. Nhận ra được điều đó, hắn mau chóng thúc đẩy bọn Covenant tiêu diệt loài người đẩy đến chỗ diệt vong. Nhưng cái ác luôn thua, kết quả là hắn bị lây nhiễm Flood và sau đó Arbiter giết chết hắn.

    FLOOD

    Gravemind

    [​IMG]

    Chiều cao: 84,8 m (279,8 ft)
    Chủng loài: Flood
    Đặc điểm: Đồ sộ, có đầu và nhiều xúc tu, cơ thể dài như con rắn


    Gravemind (còn được gọi là Inferi Sententia – Suy nghĩ chết chóc) là thể Flood phát triển nhất trong sự phát triển của Flood. Vì nó sống rất lâu nên bộ nhớ được tích trữ từ nhiều thiên niên kỉ giúp cho nó trở nên sáng xuốt, thông minh lạ thường, để tăng cường thêm, nó cũng đã thu nhặt tất cả xác cơ thể Flood đã chết cũng như xác sinh vật khác rồi kết hợp vào cơ thể nó. Có những sinh vật có tư duy chẳng hạn như con người có được những hiểu biết mà loài Flood cần thì chúng sẽ tấn công và biến sinh vật đó thành Proto-Gravemind để rồi thành thể Gravemind. Gravemind rất tinh ranh và nguy hiểm, chúng luôn tận dụng mọi cách để đảm bào cho sự tồn tại của loài Flood. Cùng với High Prophet of Truth, nó cũng là kẻ thù của UNSC và Covenant Separatists.

    FORERUNNER

    343 Guilty Spark

    [​IMG]

    Năm bắt đầu hoạt động: 101.217 năm trước năm 2552 hoặc là 101.209 trước công nguyên, tính đến năm 2009 thì nó đã làm việc được 100.674 năm
    Năm ngừng hoạt động: 2553 (do Master Chief giết)
    Chủng loài: Là một trí thông minh nhân tạo của người Forerunner
    Giới tính: Không có (Nói giọng nam)
    Đặc điểm: Luôn bay lơ lửng, là một khối hình cầu màu bạc cùng một con mắt màu xanh dương nhưng khi giận dữ mắt chuyển sang màu đỏ


    Là một trí thông minh nhân tạo của người Forerunner, nó có vai trò là một người giám sát, là người ghi chép lịch sử tại Installation 04 khi người Forerunner bị diệt vong. Được Covenant biết đến với cái tên “The Oracle” và UNSC gọi là “The Monitor”. Nhiệm vụ cơ bản của nó là bảo vệ các Installation và chống lại loài Flood nên có khi nó vừa là kẻ thù, vừa lại là đồng minh của Master Chief. Trong suốt game Halo, nó đã hé lộ cho ta được phần nào bí mật về người Forerunner. Trong Halo 3, khi Johnson đang đưa Cortana đến bảng điều khiển để phá huỷ Installtion 04 (II) thì nó đã giết chết John và nói với Master Chief “Tôi nghĩ rằng việc giúp các người là sai. Các người là hậu duệ của người tạo ra tôi, là người thừa kế tất cả những gì người Forerunner để lại. Các người là người Forerunner, nhưng vòng tròn này là CỦA TÔI.”
     
  6. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    CAMPAIGN

    [​IMG]

    Bao gồm 10 màn, trong đó có 9 màn chơi được, kể về cốt truyện Halo 3

    1. Arrival
    2. Sierra 117
    3. Crow's
    4. Tsavo Highway
    5. The Storm
    6. Floodgate
    7. The Ark
    8. The Covenant
    9. Cortana
    10. Halo

    MULTIPLAYER

    [​IMG]

    Bản đồ cơ bản

    Khi phát hành, Halo 3 có 11 bản đồ chơi mạng trên Xbox Live. Halo 3 có số lượng bản đồ chơi mạng ít nhất trong 3 phần, Halo: Combat Evolved có 13, Halo 2 có 12. Để chơi những gì không có, đặc biệt tỏng bản đồ này, nhiều người đã sử dụng Forge. Maps Epilogue, Sand Tarp, Boundless và Pit Stop là những chương trình thay đổi bản đồ của Bungie, chúng có thể thay đổi các chi tiết của bản đồ như vũ khí, phương tiện cơ giới, ...

    Construct
    Epitaph/Epilogue
    Guardian
    High Ground
    Isolation
    Last Resort
    Narrows
    Sandtrap/Sand Tarp
    Snowbound/Boundless
    The Pit/Pit Stop
    Valhalla

    Bộ bản đồ Heroic

    Được download thông qua Xbox Live Marketplace. Trước đây phải có được 800 điểm để download về, giờ thì có thể download tự do.

    Foundry
    Rat's Nest
    Standoff

    Bộ bản đồ Legendary

    Được download thông qua Xbox Live Marketplace với 800 điểm Microsoft. Microsoft giảm điểm xuống còn 600, nhưng nó đã bị ko còn bao gồm Bungie Pro cộng thêm.

    Avalanche
    Blackout
    Ghost Town

    Bộ bản đồ Mythic

    Được download thông qua Xbox Live Marketplace với 800 điểm Microsoft, hoặc là nhận được mã của bộ bản đồ thông qua mua game Halo Wars bản Limited Edition.

    Assembly
    Orbital
    Sandbox

    Bộ bản đồ ODST

    Được biết đến như bộ Mythic phần 2, bộ này cũng sẽ phát hành với Halo 3: ODST. Nó sẽ có tren Xbox LIVE Marketplace như một bộ bản đồ độc lập sau khi phất hành Halo 3: ODST.

    Citadel
    Heretic
    Longshore

    Cold Storage

    Đây là bản đồ được download miễn phí thông qua Xbox Live Marketplace và là bản đồ thứ 7 có thể download cho Halo 3. Được phát hành ngày 7-7-2008, được coi như một món quà dành cho cộng đồng Halo 3 trên toàn cầu.

    [​IMG]
     
    Last edited by a moderator: 6/7/09
  7. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    BINH CHỦNG

    UNSC

    Marine

    [​IMG]

    Năm thành lập: 2163
    Nơi phục vụ: United Earth Government
    Chi nhánh của: United Nations Space Command (UNSC)


    Với tên đầy đủ là United Nations Space Command Marine Corps (UNSC Marine Corps). Đây là lực lượng thuộc chi nhánh của UNSC Defense Force, chịu trách nhiệm về các hoạt đông quân sự dưới đất, bảo vệ lực lượng thuỷ quân cũng như các căn cứ cho chiến tranh. Cả nam lẫn nữ đều được trang bị huấn luyện rất nghiêm khắc, và đa dạng (theo chủng quân) Những người lính giỏi nhất sẽ được đưa vào các chiến trường chống lại lực lượng đông đảo và công nghệ cao của Convenant mà tưởng chừng là nhất định thất bại.

    Trong cả 3 phần đều không hề thiếu vắng hình bóng của các Marine. Nhưng so với 2 phần trước thì giờ đây hình ảnh cảu họ rất “oách”: giáp trang bị tốt hơn, vũ khí cũng các phương tiện đi kèm cũng “khủng” hơn. Suốt 3 phần, dù lực lượng ngày càng ít ỏi dần dần rút về lá chắn cuối cùng của con người – Trái Đất, họ vẫn tiếp tục chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Lord Hood, Miranda Keyes, ... vì tương lai sống còn của loài người. Họ được biết đến như là niềm tự hào kiêu hãnh của UNSC.

    Spartan

    [​IMG]

    Nơi phục vụ: United Nations Space Command (UNSC)
    Chi nhánh của: UNSC Naval Special Warfare Command
    Loại: Hoạt động quân sự đặc biệt


    Là những người lính được mệnh danh “siêu chiến binh”, họ có thể chất vô cùng tốt, kĩ năng chiến đấu tuyệt vời cùng với một thần kinh thép. Họ không được huấn luyện như Marine hay ODST mà được huấn luyện trong chương trình đặc biệt tên là Spartan (SPARTAN Program) do tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey làm trưởng dự án. Khi lần đầu chương trình hoạt động (SPARTAN-I Program hay gọi là ORION Project) thì những người tham gia là tình nguyện. Nhưng đến chương trình thứ 2 và 3 (SPARTAN-II Program và SPARTAN-III Program) thì những người tham gia là những đứa trẻ chỉ mới 6 tuổi, chúng được tiêm thuốc nhằm tăng cường thể chất và huấn luyện rất nghiêm ngặt. Từ đầu những đứa trẻ tham gia rất ít, nhưng sau một thời gian một số đứa sẽ chết đi hoặc tàn phế do cơ thể không thích ứng với chất tiêm vào người. Bộ não của những đứa chết sẽ được lập trình thành AI, những đứa trẻ thích nghi được sẽ được huấn luyện đến khi 18 tuổi, lúc đó chúng sẽ được ra chiến trường. Các người lính Spartan tinh từ từ Spartan II được trang bị giáp MJOLNIR do tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey sử dụng các ghi chép cổ xưa của người Forerunner để chế tạo.

    Spartan ta biết trong 3 phần là Sergeant Major Avery J. Johnson, ông tham gia trong SPARTAN-I Program, lúc đó áo giáp MJOLNIR chưa được phát triển, ông vẫn mặc các bộ giáp của lính bình thường, và nhờ đó mà trong Halo: Combat Evolved ông không bị biến đổi khi bị Flood tấn công. Một người nữa không ai khác chính là Master Chief, anh được biết đến như là người lính Spartan II cuối cùng, là hi vọng sau cùng của loài người trên chiến trường cuối cùng – Trái Đất.

    Orbital Drop Shock Troopers (ODST)

    [​IMG]

    Năm thành lập: 2525
    Nơi phục vụ: United Nations Space Command (UNSC)
    Chi nhánh của: United Nations Space Command Marine Corps (UNSC Marine Corps)


    Ngoại trừ các Spartan thì ODST là lực lượng mạnh nhất của quân đội. Họ được tuyển chọn những Marine xuất sắc nhất của UNSC. Họ được biết đến như là những mũi nhọn tấn công tại phía sau chiến tuyến của quân thù. Với chiến trường của ODST khốc liệt hơn hắn nên ban đầu các nhiệm vụ đa phần là tình nguyện tham gia, có khi bị xem là điên rồ. Một điều đặc biệt nữa là có một vài sĩ quan của ODST từng tham gia huấn luyện các Spartan thuộc chương trình Spartan II. Nhưng vì các Spartan giỏi hơn và có phần “tàn bạo” hơn nên đã gây nên sự kì thị giữa ODST và Spartan. Các ODST nghĩ rằng các Spartan không đáng dược gọi là “con người”.

    Cũng như Spartan, họ cũng được trang bị bộ giáp riêng. Bộ giáp Pressurized Battle Armor của họ chỉ thua đứng sau MJOLNIR. Thoạt nhìn Pressurized Battle Armor có gì đó giống MJOLNIR và được xem như là giáp "rút gọn" từ MJOLNIR. Vì phương tiện để họ đổ bộ đến chiến trường chủ yếu là HEV nên bộ giáp giúp họ có thể sống sót trong nhiệt độ kinh hoàng bên trong HEV (do được thả từ trên không rất cao ) Bộ giáp Pressurized Battle Armor được thiết kế riêng theo từng vai trò và điều kiện chiến đấu.

    Voi Factory Workers (Công nhân nhà máy thành phố Voi)

    [​IMG]

    Năm thành lập: 2552
    Nơi phục vụ: United Nations Space Command (UNSC)
    Vai trò: Sản xuất hàng hoá


    Lần đầu tiên ta thấy trong game Halo có sự góp mặt của dân chúng. Họ là công nhân của nhà máy Traxus Complex 09 (Traxus Factory Complex 09). Họ không có nhiều vũ khí chiến đấu như các Marine nên khả năng chiến đấu của họ rất kém. Trong trận chiến tại thành phố Voi, họ đã giúp đỡ Master Chief và Arbiter chiến đấu chống lại bọn Convenant Loyalists. Nhưng sau đó Flood tấn tông, họ biến thành Flood Combat Form rồi bị tiêu diệt khi Convenant Separatists dùng vũ khí Plasma trên tàu Battlecruiser nhằm tiêu diệt tận gốc Flood tại Trái Đất. Họ xuất hiện trong màn “The Storm”.

    CONVENANT SEPARATISTS

    Sangheili (Elite)

    [​IMG]

    Hành tinh quê nhà: Sanghelios
    Chiều cao: 8ft 6 (2,62 m), khi đang chiến đấu đầu cúi xuống là 7ft 2
    Cân nặng: 317 pounds (140 Kg)
    Màu da: Nâu, xám, đen
    Mô tả: Giống như loài bò sát với đặc tính cấu trúc của động vật có vú, răng giống răng loài chó, máu màu tía, hàm dưới có tới 4 khớp riêng biệt, hệ tuần hoàn nhị phân, rất giống loài động vật móng guốc 2 chân với cấu trúc tay và chân như của con người.


    Sangheili (tiếng Latin là Macto cognatus có nghĩa “Tôi tự hào mang dòng máu cha ông”) là những người lính hung tợn, mạnh mẽ, kiêu ngạo cũng như là những nhà chiến thuật nhiều kinh nghiệm. Loài Sangheili được đặt tên gần giống như hành tinh quê nhà của chúng: Sanghelios. Được con người biết đến với tên gọi Elite do có lẽ là nhỡ vào kĩ năng chiến đấu thuần thục và đày dạn kinh nghiệm của chúng. Họ luôn là chủ chốt cho hầu hết các hoạt động quân sự của loài Covenant. Họ cũng có những mối thù hằn rất sâu sắc với loài Brute.

    Ban đầu giữa Elite và Prophet đã có một bản giao ước hoà bình và sáng lập thành một chủng tộc thống nhất với cái tên Covenant. Nhưng sau đó loài Elite đã tách ra thành lập một phe riêng biệt với tên gọi Covenant Separatists vì các Prophet đã trở mặt có ý diệt chủng loài này. Điều này đã xảy ra khi Master Chief ra tay giết chết Prophet of Regret. Elite là loài đã phải chịu trách nhiệm cái chết của Prophet of Regret, và điều đó trở thành bàn đạp để các Prophet cho rằng Elite không còn đáng để tham gia các hoạt động quân sự cũng như bảo vệ các Prophet. Các Prophet đã chọn một chủng tộc khác thay thế họ: loài Brute.
     
  8. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    COVENANT LOYALISTS

    San 'Shyuum (Prophet)

    [​IMG]

    Chiều cao: 7ft 2in (2,2 m)
    Cân nặng: 200,6 pounds (91 kg)
    Màu da: Nâu hồng, xám hồng
    Mô tả: Cổ dài, mang hình dáng và tính cách giống con người


    San 'Shyuum (tiếng Latin là Perfidia vermis có nghĩa “Con sâu bội bạc”), được con người biết đến với tên gọi Prophet, giống như loài động vật có vú, là những người lãnh đạo chủng tộc Covenant, là một trong những loài huyền bí nhất trong ban lãnh đạo Covenant. Các Prophet hoàn toàn kiểm soát các vấn đề chính trị và tôn giáo, thực hiện các vai trò của nhà chính trị, tôn giáo của Covenant. Chúng luôn cho rằng khi khởi động các vòng tròn Halo thì chúng sẽ đạt được The Great Journey, nhưng thực chất hành động đó sẽ gây nên sự diệt vọng của tất cả các sinh vật sống trong dãy ngân hà cũng như đã gây ra sự biến mất xưa kia của người Forerunner mà bọn Covenant luôn tôn thờ. Mặc dù thể chất của các Prophet thua kém hơn hắn các loài khác của Covenant nhưng nhờ vào kiến thức đồ sộ của chúng về người Forerunner đã khiến cho chúng có quyền lực tuyệt đối và cũng khiến chúng nguy hiểm nhất trong Covenant.

    Jiralhanae (Brute)

    [​IMG]

    Hành tinh quê hương: Doisac
    Chiều cao: 8.9 ft đến 9.2 ft (2,72 m đến 2,80 m)
    Cân nặng: 1,124 pounds (510 kg)


    Jiralhanae (tiếng Latin là Servus ferox có nghĩa “Nô lệ man rợ”), được con người biết đến với tên Brute bởi hình dáng giống loài khỉ, là một loài trong Covenant. Sau loài Jackals, Brute và Grunt là 2 loài chạm trán với con người thứ hai. Loài Brute cũng cú mối thù hằn rất sâu sắc với loài Elite, hơn hẳn tất cả các loài khác trong Covenant.

    Bọn Brute là một phần của Covenant từ khi hành tinh Harvest bị phá huỷ, loài Elite lo sợ lũ Brute bởi chúng hay tự đại. Kế hoạch chiếm lấy quyền lực của Elite bắt đầu khi chúng liên minh với loài Prophet trong cuộc chiến tại Harvest và vẫn tiếp tục cho đến khi nội chiến của Covenant xảy ra và loài Elite rút ra khỏi đế chế Covenant. Sau đó chúng đã giành được vị trí bảo vệ các Prophet từ loài Elite khi mà loài Elite đã không ngăn chặn được Master Chief giết chết Prophet of Regret.

    Mgalekgolo (Hunter)

    [​IMG]

    Hành tinh quê hương: Te
    Chiều cao: 12ft 9in (3,93 m)
    Cân nặng: 10.500 pounds (4762 kg)
    Màu da: Đỏ cam
    Mô tả: Cơ thể bao gồm các sinh vật giống như giun tập hợp thống nhất thành một gọi là Lekgolo


    Mgalekgolo (tiếng Latin là Ophis congregatio có nghĩa “Tập hợp rắn”) là loài độc nhất có cấu trúc gồm các sinh vật nhỏ hơn gọi là Lekgolo. Lekgolo là loài nhỏ bé, màu cam, giống như con sâu nên chúng đã tập hợp lại với nhau thành một cơ thể độc lập thống nhất để tăng cường trí tuệ, sức mạnh và khả năng của chúng. Loài người gọi Mgalekgolo là Hunter. Sau cuộc nội chiến của Covenant, giữa loài này đã có sự phân tách: một sô theo Covenant Separatists, một số thì ở lại Covenant Loyalists. Đây là loài duy nhất bị Flood tấn công nhưng không bị biến đổi, bởi như đã nói, chúng không là một cơ thể riêng biệt mà là do nhiều sinh vật Lekgolo hợp thành.

    Unggoy (Grunt)

    [​IMG]

    Hành tinh quê hương: Balaho
    Chiều cao: Khoảng 5 ft
    Cân nặng: 101 pounds (46 kg)
    Màu da: Xám xanh, nâu, xám
    Mô tả: Thấp, khoẻ, đầu tròn, da mịn (trong Halo: Combat Evolved và Halo 2) và nhăn (trong Halo 3), giọng nói như chuột kêu, tứ chi phát triển


    Unggoy (tiếng Latin là Monachus frigus có nghĩa “Thầy tu băng giá” hay theo tiếng Tagalog là “Con khỉ”) được con người gọi với cái tên Grunt, là loài có thân hình nhỏ nhắn phục vụ cho Covenant trung thành nhất. Chúng là loài có cấp bậc thấp nhất trong xã hội Covenant nên được sử dụng như tấm chắn đỡ đạn hay công nhân. Chúng luôn luôn bị loài Brute ngược đãi. Grunt là một trong các loài gia nhập đế chế Covenant sớm nhất. Grunt là loài được thiết kế bao gồm loài bò sát và động vật có vú, mặc dù trên thực tế chúng như loài động vật chân đốt. Sau loài Jackals và Brute, Grunt là loài thứ 3 mà con người chạm trán.

    Kig-yar (Jackal)

    [​IMG]

    Hành tinh quê hương: Eayn
    Chiều cao: 5ft 8in
    Cân nặng: 159 pounds (79 kg)
    Màu da: Cam: xanh lục đậm, nâu nhạt
    Mô tả: Cao, ốm có đôi mắt to, có móng vuốt và hàm răng sắc bén


    Kig-yar (tiếng Latin là Perosus latrunculus có nghĩa “Kẻ cướp đầy hận thù”) con người gọi là Jackal, là chủng loài phục vụ cho đế chế Covenant chỉ nhắm mục đích trục lợi và sau này là Covenant Loyalists. Con người đã tránh, hạn chế chạm trán với bọn quái vật Jackal này. Chúng được biết đến như là chủng loài nhanh nhẹn, xấu xa và khéo léo mặc dù chúng không phải là loài mạnh nhất trong đế chế Covenant. Jackal được chọn làm lính bắn tỉa hay trinh sát nhờ ý thức cảnh giác cao, khả năng đánh hơi và lắng nghe tuyệt vời. Chúng là chủng loài đầu tiên của đế chế Covenant mà con người chạm trán.

    Yanme'e (Drone)

    [​IMG]

    Hành tinh quê nhà: Palamok
    Chiều cao: 5ft 10in (1,79 m)
    Mô tả: Hình dáng giống như loài côn trùng, có cánh và biết bay


    Yanme'e (tiếng Latin là Turpis rex có nghĩa “Vị vua đáng hổ thẹn”) được con người gọi với cái tên Drone, được biết đến là những người lính thông minh, mang hình dáng côn trùng và biết bay của đế chế Covenant.

    Được các bộ binh của UNSC gọi với cái tên “Lũ sâu bọ” hay “Drone”. Dù ta thấy chúng chỉ đôi khi xuất hiện với tư cách là một phần của Covenant, nhưng chúng đã tham gia cuộc chiến với loài người. Với ưu thế có thể chiến đấu hỗ trợ từ trên không, chúng đã trở thành những chiến lược thuận lợi khó mà vượt qua được của Covenant. Chúng thường đi theo đàn với số lượng từ 12 đến 50 tên.
     
  9. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    FLOOD

    Infection Form

    [​IMG]

    Chiều cao: 88 cm (2,9 ft)
    Mô tả: Nhỏ, hình dáng như quả bóng và nhiều xúc tu để thăm dò môi trường xung quanh
    Tấn công: Đi theo đàn tấn công con mồi có kích thước lớn hơn, đâm xiên thủng da để lây nhiễm vật chủ hay làm suy yếu lớp giáp đối phương


    Đây là thể Flood đầu tiên của loài Flood, là loài thường hay bắt gặp nhất và cũng là loài để tấn công lây nhiễm vật chủ thành các dạng Flood cao cấp hơn nhằm bành trướng loài Flood. Chúng thường luôn đi chung với số lượng lớn.

    Combat Form

    [​IMG]

    Mô tả: Da của vật chủ có màu xanh xám và thối rữa, Chúng được trang bị vũ khí, quần áo của vật chủ trước đây. Cái đầu của vật chủ quẹo sang một bên nhằm tạo chỗ cho Infection Form bám vào (lúc này Infection Form trở thành giống như đầu) Ta thấy rõ nhất với vật chủ là con người.
    Tấn công: Tấn công nạn nhân bất ngờ, sử dụng xúc tu như roi, sử dụng vũ khí của vật chủ


    Combat Form là thể Flood ngay sau khi nạn nhân bị Infection Form tấn công. Sau khi bị lây nhiễm, trên cơ thể vẫn còn bộ quần áo, trang bị vũ khí của nạn nhân. Chúng có vai trò tấn công các mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ cho loài Flood. Khi tấn công chúng thường phối hợp cùng nhau.

    Carrier Form

    [​IMG]

    Chiều cao: 2 m (6,6 ft)
    Mô tả: Lớn, phần thân trên phồng to lên cùng với 2 xúc tu, chân ngắn và mập
    Tấn công: Áp sát nạn nhân và thả các Infection Form nhằm lây nhiễm họ


    Đây là thể Flood thường thấy, chúng có vai trò sinh sản và vận chuyển các Infection Form, với hình thức như vậy chúng có thể khiến cho loài Flood có thể lan rộng. Dù chúng di chuyển rất chậm nhưng một khi đã áp sát đối phương thì sẽ rất nguy hiểm.

    Tank Form

    [​IMG]

    Chiều cao: 4 m (12 ft)
    Mô tả: Là thể Flood to lớn và mạnh mẽ nhất của bậc phát triển Pure Form, không thể sử dụng vũ khí, biến đổi từ Stalker Form
    Tấn công: Đôi tay rất lợi hại khi cận chiến, có thể thả các Infection Form


    Đây là thể Flood lần đầu xuất hiện trong Halo 3, thuộc bậc phát triển Pure Form, biến đổi từ Stalker Form. Chúng thực sự là nỗi kinh hoàng với đôi tay to lớn, thân hình đồ sộ và mạnh mẽ của chúng. Thoạt đầu nhiều người lầm tưởng đây là do loài Hunter của Covenant bị lây nhiễm nhưng loài Hunter không có một cơ thể riêng biệt mà là do các sinh vật hình giun tên Lekgolo tập hợp mà thành, vì lẽ đó mà Hunter không thể bị lây nhiễm được.

    Stalker Form

    [​IMG]

    Chiều cao: Khoảng 1 m
    Mô tả: Giống loài cua và nhện, thân hình nhỏ, chân phát triển, có thể chạy nhanh và nhảy ở cự li rất xa
    Tấn công: Cận chiến, có thể leo tường


    Là thể Flood thuộc bậc Pure Form, chúng là bậc thầy của tấn công lén lút và thân pháp rất nhanh nhẹn. Chúng được sinh ra từ sự tái tạo loài xương của các nạn nhân. Khi cần thiết chúng sẽ biến đổi sang thể Ranged Form hay Tank Form. Chúng sẽ bò sát ngay ở phía dưới đối phương và bất ngờ đột ngột tấn công cho đến khi đối phương chưa kịp nhìn xuống. Chúng có thể dễ dàng trèo lên tường hay trần nhà rồi bất ngờ nhảy xuống tấn công như thể Combat Form. Dù vậy chúng lại không mạnh như Tank Form hay Ranged Form, chúng là thể dễ bị giết nhất trong 3 thể của bậc Pure Form.

    Ranged Form

    [​IMG]

    Chiều cao: Khoảng 8 ft
    Mô tả: Có thể bắn ra các gai nhọn, có thể cuộn tròn như quả banh và bám được trên tường và trần nhà
    Tấn công: Bắn các gai nhọn từ khoảng cách xa

    Là thể Flood biến đổi từ Stalker Form thuộc bậc Pure Form trong Halo 3. Chúng biến đổi khi Stalker Form bị thương hay chúng chọn một nơi cố định trên tường, trần nhà hay mặt đất. Trên cơ thể chúng có một chỗ u ra giống như miệng mà nơi đó bắn ra các gai nhọn tấn công đối phương. Chúng có thể cuộn tròn người lại, đến khi đó chúng trở nên khó tiêu diệt.
     
  10. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    FORERUNNER

    Sentinel

    [​IMG]

    Kích thước: 2,48 m
    Nhiệm vụ: Bảo vệ
    Sức mạnh: Trung bình
    Lần đầu chạm trán: 21 - 9 - 2552


    Sentinel là một cỗ máy tự động do người Forerunner cổ xưa tạo ra, nó có một trí tuệ nhân tạo không trung bình. Nó có nhiệm vụ tiệu diệt bọn Flood phòng khi chúng thoát ra khỏi nơi giam giữ và bảo vệ các công trình của người Forerunner. Trên chúng có gắn một vũ khí năng lượng gọi là Sentinel Beam rất hiệu quả khi chống lại Flood. Khi Sentinel bị hạ, ta có thể lấy vũ khí đó sử dụng.

    Constructor

    [​IMG]

    Kích thước: Nhỏ, cỡ từ khẩu súng Plasma Pistol và Plasma Rifle của Covenant
    Nhiệm vụ: Sửa chữa
    Sức mạnh: Yếu
    Lần đầu chạm trán: Tại Delta Halo (Installation 05), năm 2552


    Chúng được người Forerunner sáng chế ra, có nhiệm vụ tìm kiếm và sửa chữa các thiệt hại hư hao của các công trình của người Forerunner để lại. Các Sentinel đi cùng để bảo vệ chúng vì Constructor không hề có vũ khí để tự bảo vệ. Khi bị tấn công, chúng sẽ tạo ra một tính hiệu để kêu gọi Sentinel đến giúp đỡ. Constructor được xem như một thiết bị an ninh hoàn hảo.

    Monitor

    [​IMG]

    Nhiệm vụ: Giám sát, trông nom các công trình của người Forerunner
    Sức mạnh: Rất mạnh
    Lần đầu chạm trán: Tại Alpha Halo (Installation 04), năm 2552


    Monitor là trí thông minh nhân tạo (AI) bậc cao, được người Forerunner chế tạo 100.000 năm trước nhằm giám sát bảo vệ các công trình của họ cũng như đảm bảo bọn Flood luôn bị giam giữ chặt chẽ không thể thoát ra ngoài. Monitor vô cùng thông minh và chúng có rất nhiều kiến thức về loài Flood cũng như về người Forerunner.
     
  11. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    VŨ KHÍ

    UNSC

    MA5C Individual Combat Weapon System (Assault Rifle)

    [​IMG]

    Chủng loại: Bullpup Assault Rifle
    Kích thước: 88 cm (34,6 in) - Cầm hai tay
    Khối lượng: 4,1 kg (9,05 lbs)
    Sát thương: Trung bình
    Băng đạn: 32 viên
    Chế độ: Tự động
    Đạn: 7,62 x 51mm FMJ
    Tốc độ: 10 rnds/ s
    Vận tốc: 905 m/s
    Chính xác: Thấp và trung bình
    Tầm xa: Gần và trung bình


    MA5C Individual Combat Weapon System (được viết tắt là MA5C ICWS) còn được biết với tên gọi MA5C Assault Rifle. Được cải tiến từ khẩu súng tiền nhiệm MA5B. Đây là khẩu được quân đội sử dụng rộng rãi. Khẩu súng này đã xuất hiện ở Halo: Combat Evolved nhưng lại biến mất trong Halo 2, đến Halo 3 nó đã tái xuất. Trong các hình ảnh của Halo luôn có sự xuât hiện của MA5C, đây được coi là biểu tượng của sự sáng tạo của đội ngũ nhà thiết kế game của Bungie.

    BR55HB SR Battle Rifle (Battle Rifle)

    [​IMG]

    Chủng loại: Bullpup Battle Rifle
    Kích thước: 89,9 cm (35,4 in) – Cầm hai tay
    Khối lượng: 8,378 lbs
    Sát thương: Trung bình (với lính có giáp) và khá (lính bình thường)
    Băng đạn: 36 viên
    Chế độ: Một loạt (Burst) 3 viên
    Đạn: 9,5 x 40mm M634 X-HP-SAP
    Tốc độ: 2,4 Bursts/ s
    Chính xác: Cao
    Tầm xa: Trung bình và xa


    BR55HB SR Battle Rifle được cải tiến từ khẩu BR55 xuất hiện trong Halo 2. Vừa có thể bắn ở cự li gần, vừa có thể bắn cự li xa với ống kính nhắm 2x. BR55HB trở thành một trong những vũ khí tốt nhất của UNSC.

    M6G Personal Defense Weapon System (Magnum)

    [​IMG]

    Chủng loại: Magnum Caliber Pistol
    Kích thước: 26,7 cm (10,5 in) – Cầm một tay
    Khối lượng: 2,95 kg (6,5 lbs)
    Sát thương: Cao (với lính có giáp) và rất cao (headshot)
    Băng đạn: 40 viên (cầm một khẩu) và 80 viên (cầm hai khẩu)
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: 12,7 x 40mm M225 SAPHE
    Tốc độ: 2 rnds/ s
    Vận tốc: 427 m/ s
    Chính xác: Trung bình và cao
    Tầm xa: Gần đến trung bình (100 m)


    Không một fan dòng game Halo mà không biết đến khẩu súng này. M6G Personal Defense Weapon System (viết tắt là M6G PDWS) còn được gọi là M6G Magnum Sidearm. Đây là khẩu súng lục thông dụng nhất của UNSC, không một người lính nào thiếu nó. M6G là một trong những phiên bản của dòng súng lục M6.

    M7/Caseless Submachine Gun (SMG)

    [​IMG]

    Chủng loại: Submachine Gun
    Kích thước: 47,4 cm (18,66 in.) - Cầm hai khẩu
    Khối lượng: 2,88 kg (6,36 lbs)
    Sát thương: Thấp và trung bình
    Băng đạn: 60 viên
    Chế độ: Tự động
    Đạn: 5 x 23mm M443 Caseless MFJ
    Tốc độ: 15 rnds/ s
    Vận tốc: 427 m/ s
    Chính xác: Thấp đến vừa
    Tầm xa: 50 m


    M7/Caseless Submachine Gun được biết đến đơn giản với tên gọi SMG, là một trong những khẩu súng tốt nhất của UNSC. Sẽ đáng sợ hơn khi được lắp nòng giảm thanh, lúc đó sẽ được gọi là M7S.

    M9 High-Explosive Dual-Purpose Fragmentation Grenade (Frag Grenade)

    [​IMG]

    Chủng loại: Grenade
    Kích thước: 9,5 cm (3,9 in) – Cầm một tay
    Khối lượng: 4 kg (8,75 lbs)
    Sát thương: Rất cao
    Chế độ: Ném
    Vận tốc: Vừa
    Chính xác: Phụ thuộc vào lực ném
    Tầm xa: Phụ thuộc vào lực ném


    Là loại lựu đạn phổ biến của UNSC. Có tên gọi là Fragmentation Grenade, Frag Grenade, hoặc chỉ đơn giản là Frag. Khi nổ, các miếng kim loại nhỏ bên trong bay văng ra với vận tốc cao có tác dụng như đạn. Khi Frag Grenade nổ, nó sẽ phá huỷ mọi thứ trong tầm bán kính 9 m.

    M41 SSR MAV/AW Rocket Launcher (Rocket Launcher )

    [​IMG]

    Chủng loại: Rocket Launcher
    Kích thước: 134,9 cm (4,426 ft) – Cầm hai tay
    Sát thương: Rất cao
    Băng đạn: 2 quả tên lửa
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: 102mm High-Explosive Anti-Tank Shaped Charge
    Vận tốc: Vừa
    Chính xác: Cao
    Tầm xa: Ngắn đến trung bình


    M41 SSR MAV/AW thực sự là nỗi sợ hãi của các phương tiện cơ giới. Khẩu Bazoka này thay thế cho M19 SSM trong Halo: Combat Evolved và Halo 2.

    M90 Close Assault Weapon System (Shotgun)

    [​IMG]

    Chủng loại: Shotgun
    Kích thước: 123,9 cm (48,8 in) – Cầm hai tay
    Khối lượng: 5,8 kg (12,8 lbs)
    Sát thương: Rất lớn (tầm gần) và trung bình (tầm xa trung bình)
    Băng đạn: 6 viên
    Chế độ: Bắn từng viên
    Đạn: Soellkraft 8 Gauge Shell
    Chính xác: Thấp đến trung bình
    Tầm xa: Thấp đến trung bình


    Nếu như Covenant có Energy Sword thì con người có M90. Đây là khẩu súng cận chiến tốt nhất của con người, được những người lính giáp chiến ưa dùng. Đây chính là khẩu súng hữu dụng nhất của con người khi chống lại loài Flood – một phát là banh.

    Sniper Rifle System 99D-S2 Anti-Matériel (Sniper Rifle)

    [​IMG]

    Chủng loại: Anti-Matériel Sniper Rifle
    Kích thước: 187,5 cm – Cầm hai tay
    Sát thương: Rất lớn, chết ngay chỉ với một viên headshot
    Băng đạn: 4 viên
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: 14,5 x 114mm APFSDS
    Tốc độ: 2 rnds/ s
    Chính xác: 97,3 %
    Tầm xa: Rất xa


    Sniper Rifle System 99D-S2 Anti-Material (được viết tắt thành SRS99D-S2 AM) được biết đến với cái tên thông dụng SRS99D-S2 AM Sniper Rifle. Đây là khẩu súng nhắm duy nhất và mạnh nhất của UNSC. Với độ chính xác gần như tuyệt đối cùng với sức công phá cao của SRS99D-S2 AM, nó đã thành một nỗi sợ hãi của đối phương, kể cả lính có giáp.
     
  12. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    Weapon/Anti-Vehicle Model 6 Grindell/Galilean Nonlinear Rifle (Spartan Laser)

    [​IMG]

    Chủng loại: Directed Energy Weapon
    Kích thước: 98,7 cm (38,8 in) – Đeo trên vai
    Khối lượng: 20,4 kg (45 lbs)
    Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng
    Chế độ: Nạp pin, bắn từng phát một
    Đạn: Battery Cells
    Tốc độ: Rất chậm, 1 shot/ 5s
    Chính xác: Tuyệt đối
    Tầm xa: 500 m


    Weapon/Anti-Vehicle Model 6 Grindell/Galilean Nonlinear Rifle (viết tắt là W/AV M6 G/GNR) còn được gọi là Spartan Laser, nó có khả năng chống phá cả các phương tiện cơ giới. Vì là súng Laser nên “đạn” có đường đi cũng giống như ánh sáng, nhờ đó nên Spartan Laser có một độ chính xác tuyệt đối. Trang bị thêm nữa là một ống nhắm 5x khiến cho nó trở thành một súng nhắm lợi hại. Đây là vũ khí dành riêng cho các Spartan.

    AIE-486H Heavy Machine Gun (Machine Gun Turret)

    [​IMG]

    Chủng loại: Portable Gatling turret
    Kích thước: Cầm hai tay
    Sát thương: Trung bình và cao
    Băng đạn: 200 viên (khi cầm tay) và vô hạn (gắn trên giá đỡ)
    Chế độ: Tự động
    Đạn: 7,62 x 51mm SLAP
    Tốc độ: Cao
    Chính xác: Thấp dến trung bình
    Tầm xa: Trung bình


    AIE-486H Heavy Machine Gun được mệnh danh là “Kẻ huỷ diệt”. Nó có thể chống chọi lại các phương tiện cơ giới nhẹ cũng như dễ dàng thổi bay lính có giáp hay máu trâu. Trong Halo 3, khẩu súng này đã được “tút” lại cho đẹp hơn so với 2 bản đầu.

    LAU-65D/SGM-151 (Missile Pod)

    [​IMG]

    Chủng loại: Missile Launcher
    Kích thước: Cầm hai tay
    Sát thương: Trung bình đến cao
    Băng đạn: 8 quả tên lửa (missile) (khi cầm tay) và vô hạn (gắn trên giá đỡ)
    Đạn: Guided armor piercing missile
    Tốc độ: 2.5 missiles/ s
    Tầm xa: Xa


    Còn được biết đến với cái tên đơn giản là Missile Pod. Lần đầu xuất hiện trong Halo 3, Missile Pod còn mạnh hơn cả Rocket Launcher. Nó có thể biến người dùng thành một xe tăng hạng nhẹ có thê thổi bay tất cả. Đây thực sự là một đối thủ đáng gờm.

    M7057/Defoliant Projector (Flamethrower)

    [​IMG]

    Chủng loại: Flamethrower
    Kích thước: 116,8 cm (46 in) – Cầm hai tay
    Khối lượng: 55,5 kg (122,5 lbs)
    Sát thương: Cao
    Băng đạn: 100 đơn vị chất đốt
    Chế độ: Phun lửa liên tục
    Nhiên liệu: Pyrosene-V
    Chính xác: Cao (tầm gần) và trung bình (tầm trung bình)
    Tầm xa: Ngắn, 13,4 m (44 ft)


    Được biết đến với cái tên gọn hơn là M7057 Flamethrower. Đây là nỗi sợ của loài Flood với ngọn lửa nóng ngàn độ có thể nướng chín chúng chỉ trong tích tắc. Bên ngoài được vẽ hình hàm cá mập tăng độ “ngầu” của súng phun lửa này.
     
  13. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    COVENANT

    Type-1 Antipersonnel Grenade (Plasma Grenade)

    [​IMG]

    Chủng loại: Anti-Personnel Grenade
    Kích thước: Đường kính 15,1 cm – Cầm một tay
    Sát thương: Rất cao
    Chính xác: Phụ thuộc vào lực ném
    Tầm xa: Phụ thuộc vào lực ném


    Đây là loại lựu đạn của Covenant nhưng Covenant không tạo ra chúng mà là người Forerunner cổ xưa tạo ra, bằng chứng rõ nhất cho việc này là có biểu tượng của người Forerunner trên quả lựu đạn (Hình vẽ màu xanh trên nền đỏ trong hình) Quả lựu đạn này có thể dích lên mục tiêu và tự động phát nổ sau 3 giây kể từ lúc ném.

    Type-1 Energy Weapon/Sword (Energy Sword)

    [​IMG]

    Chủng loại: Energy Weapon/Sword
    Kích thước: 131,7 cm (4,321 ft) – Cầm một tay
    Sát thương: Có thể phá cả 1 cây giáp hoặc 2/3, khi chém có thể gây chí mạng
    Năng lượng: 100 đơn vị năng lượng
    Chế độ: Cận chiến
    Tốc độ: 1,5s một nhát chém, 5s một phát đâm
    Chính xác: Vô cùng cao
    Tầm xa: 1 - 2 m


    Đây là vũ khí được rất nhiều người yêu thích. Được loài Sangheili chuyên sử dụng. Đây thực sự là một vũ khí ghê gớm với độ chính xác rất cao và sử dụng linh hoạt. Rất tốt để tấn công loài Flood.

    Type-25 Directed Energy Pistol (Plasma Pistol)

    [​IMG]

    Chủng loại: Directed Energy Pistol
    Kích thước: 34,4 cm (13,5 in.) – Cầm một tay
    Khối lượng: 3,5 kg (7,75 lbs)
    Sát thương: Thấp
    Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng (200 phát bắn)
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: Superheated Plasma
    Vận tốc: 108 m/ s
    Chính xác: Trung bình
    Tầm xa: 50 m (155 ft)


    Khẩu súng này được loài Unggoy, Kig-Yar, và Yanme'e chuyên sử dụng, Khi bắn có 2 cách: bắn từng phát hoặc giữ nút gồng bắn đạn mạnh hơn nhưng sau đó sẽ bị overheating. Đây là khẩu súng thuộc loại khá.

    Type-25 Directed Energy Rifle (Plasma Rifle)

    [​IMG]

    Chủng loại: Rifle
    Kích thước: 66 cm (26 in) – Cầm một tay
    Khối lượng: 5,8 kg (13 lbs)
    Sát thương: Trung bình
    Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng (400 phát bắn)
    Chế độ: Bán tự động, tự động
    Đạn: Superheated Plasma
    Tốc độ: 360 ~ 540 shots/ min
    Vận tốc: 126 m/ s (413 ft/ s)
    Chính xác: Vừa
    Tầm xa: Ngắn đến trung bình


    Được biết đến với cái tên thông dụng là Plasma Rifle. Đây là khẩu súng thuộc loại khá. Khi bắn có thế giữ nút để bắn liên tục, đây là một cách hữu hiệu để phá giáp hay áp đảo đối phương.

    Type-26 Anti-Personal Stationary Gun (Shade)

    [​IMG]

    Chủng loại: Stationary Turret
    Kích thước: 2,6 m (8,5 ft) – Ngồi vào buồng điều khiển
    Giới hạn: 1 người sử dụng


    Đây là ụ súng cố định của Covenant, người sử dụng chui vào buồng để điều khiển. Trong cả 3 phần đều có kiểu dáng khác nhau, nhưng với công năng thì không thay đổi: sát thương cao, có thể chống chọi lại các phương tiện cơ giới. Đây là thứ vũ khí khá tốt khi dùng để chống chọi lại số đông kẻ thù.

    Type-33 Guided Munitions Launcher (Needler)

    [​IMG]

    Chủng loại: Munitions Launcher
    Kích thước: 57,8 cm (22,75 in) - Cầm một tay
    Khối lượng: 4,3 kg (9,5 lbs)
    Sát thương: Trung bình
    Băng đạn: 19 viên
    Chế độ bắn: Tự động
    Đạn: Crystalline Explosive Projectiles
    Tốc độ: 8,5 rnds/ s
    Vận tốc: 54 m/ s
    Chính xác: Cao
    Tầm xa: Ngắn đến trung bình


    Khẩu này cũng rất nổi tiếng, xuất hiện từ Halo: Combat Evolved. Không sử dụng đạn plasma như các súng khác, Needler sử dụng loại đạn giống như các tinh thể nhưng vô cùng sắc nhọn. Các tinh thể có màu hồng nên khi bắn nhìn chúng rất đẹp nhưng cũng không kém phần đáng sợ.

    Type-33 Light Anti-Armor Weapon (Fuel Rod Gun)

    [​IMG]

    Chủng loại: Anti-Armor
    Kích thước: 130,2 cm (51,26 in) – Đeo trên vai
    Khối lượng: 23,3 kg (52 lbs)
    Sát thương: Rất cao
    Băng đạn: 5 viên
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: 3,8 cm explosive ballistic projectiles
    Tốc độ: Vừa, 2 rnds/ s
    Vận tốc: 72 m/ s
    Chính xác: Trung bình
    Tầm xa: 165 m


    Xuất hiện lần đầu trên Halo: Combat Evolved, nhưng đến Halo 2 thì thiết kế sửa lại. Một khi đã thấy đối phương vác thì hãy chạy đi thật xa. Với sức công phá cao cùng với khả năng bắn lan khiến chúng là một đối thủ đáng gờm.
     
  14. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    Type-50 Sniper Rifle System (Beam Rifle)

    [​IMG]

    Chủng loại: Sniper Rifle
    Kích thước: 160,5 cm (63,3 in) – Cầm hai tay
    Khối lượng: 18 kg (39,6 lbs)
    Sát thương: Rất cao
    Băng đạn: 100 đơn vị năng lương (18 – 20 phát bắn)
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: Accelerated Particle Beams
    Tốc độ: Vừa
    Vận tốc: 3657 m/ s
    Chính xác: Rất cao
    Tầm xa: 1500 m


    Nếu UNSC có Sniper Rifle thì Covenant thì lại có Beam Rifle nhằm bảo đảm cân bằng cho 2 phe. Không kém cạnh Sniper Rifle, Beam Rifle cũng có sức công phá cũng như độ chính xác không hề thua gì. Đa phần súng này được bọn Jackal sử dụng.

    Type-51 Carbine (Covenant Carbine)

    [​IMG]

    Chủng loại: Carbine
    Kích thước: 122,8 cm (48,3 in) – Cầm hai tay
    Khối lượng: 8,8 kg (19,5 lbs)
    Sát thương: Trung bình
    Băng đạn: 18 viên
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: 8,7 x 60 mm caseless radioactive projectiles
    Tốc độ: Vừa
    Vận tốc: 700 m/ s
    Chính xác: Cao
    Tầm xa: 600 m


    Khẩu súng này có thiết kế khá hay. Được các Brutes, Jackals và Elites, có đôi khi các Marine và Combat Form sử dụng. Đây là một khẩu súng thuộc loại khá, chống chọi với loài Flood cũng rất tốt. Khẩu này tương đương như Battle Rifle của UNSC.

    Type-52 Directed Energy Support Weapon (Plasma Cannon)

    [​IMG]

    Chủng loại: Portable Plasma Turret
    Kích thước: 131,7 cm – Cầm hai tay
    Sát thương: Trung bình
    Băng đạn: 200 phát bắn (khi cầm tay) và vô hạn (khi gắn trên giá)
    Chế độ: Tự động
    Đạn: Superheated Plasma
    Chính xác: Trung bình
    Tầm xa: trung binh


    Giống như khẩu Machine Gun Turret của loài người. Với món “đồ chơi” này người chơi có thể cày nát mọi thứ xung quanh. Một vũ khí dành cho những người thích phá tung mọi thứ.

    Type-2 Antipersonnel Fragmentation Grenade (Spike Grenade)

    [​IMG]

    Chủng loại: Grenade
    Kích thước: 91,4 cm (36 in) – Cầm một tay
    Khối lượng: 1,93 kg (4,25 lbs)
    Sát thương: Rất cao
    Tốc độ: Phụ thuộc vào lực ném
    Tầm xa: Khá


    Đây là loại lựu đạn của riêng loài Brute. Ngoài công năng là phát nổ thì các lưỡi móc sắt được gắn lên đó cũng rất lợi hại. Nếu mà đem cái này đi phang đầu thì có nước mà toi đời. Đúng là lựu đạn của loài Brute khi chúng có hình dáng khủng khiếp cũng giống như chính bản chất của bọn Brute.

    Type-2 Energy Weapon/Hammer (Gravity Hammer)

    [​IMG]

    Chủng loại: Melee Weapon
    Kích thước: Cầm hai tay
    Sát thương: Có thể gây chí mạng, gây sát thương diện rộng
    Năng lượng: 100 đơn vị năng lượng
    Chế độ: Tạo ra chấn động xung kích trọng trường
    Tầm xa: Gần


    Còn được mọi người gọi là búa trọng trường. Xuất hiện từ Halo 2 nhưng không thể sử dụng được. Đây là vũ khí cận chiến còn tốt hơn cả Energy Sword của loài Elite. Nó có thể đập một phát xuống đất để tạo chấn động đủ để lật ngược các phương tiện khí tài.
     
  15. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    Type-3 Antipersonnel/Antimatériel Incendiary Grenade (Incendiary Grenade)

    [​IMG]

    Chủng loại: Grenade
    Kích thước: 30,5 cm (12 in) – Cầm một tay
    Khối lượng: 3,6 kg (8 lbs)
    Sát thương: Rất cao


    Một loại lựu đạn mới trong Halo 3. Chúng được loài Brute chuyên sử dụng. Khi nổ có có thể toả nhiệt lên đến 2200 độ C để có món “thịt nướng” chỉ trong giây lát. Không dừng lại ở đó, nó có thể gây thiệt hại mọi thứ trong bán kính 3,4 m. Đây cũng là một vũ khí cho thấy bản chất của loài Brute: tàn bạo.

    Type-25 Carbine (Spiker)

    [​IMG]

    Chủng loại: Automatic Carbine
    Kích thước: 81,7 cm (32,17 in) – Cầm một tay
    Khối lượng: 7 kg (15,5 lbs)
    Sát thương: Trung bình
    Băng đạn: 40 viên
    Chế độ: Tự động
    Đạn: Superheated metallic Spikes
    Tốc độ: 8 rnds/ s
    Vận tốc: 76.2 m/ s
    Chính xác: Cao (tầm xa gần) và thấp (tầm xa trung bình)
    Tầm xa: 40 m


    Được loài Brute sử dụng trong cuộc chiến Human – Covenant. Khẩu súng được thiết kế khá ngầu. Đạn là những cây đinh kim loại sắc nhọn khiến chúng trở nên rất nguy hiểm, súng có tới 2 nòng giúp được bắn nhiều hơn. Cộng thêm đó là cặp đao sắc bén lắp bên dưới súng giúp cho cây súng trở nên toàn diện. Một khi cây súng này mà đã áp sát rồi thì đừng hòng !

    Type-25 Grenade Launcher (Brute Shot)

    [​IMG]

    Chủng loại: Grenade Launcher
    Kích thước: 183,8 cm (6,03 ft) – Cầm hai tay
    Sát thương: Trung bình đến cao
    Băng đạn: 6 viên
    Chế độ: Bán tự động
    Đạn: High Explosive Grenades
    Chính xác: Trung bình, cao
    Tầm xa: Gần, trung bình


    Đây là niềm kiêu hãnh của loài Brute, nhờ nó mà Brute trở thành cơn ác mộng cho đối phương. Đạn là các quả lựu đạn có sức công phá khủng khiếp, cùng với đó là lưỡi dao sắc nhọn gắn ngay phía dưới. Phải công nhận rằng không vũ khí nào của loài Brute mà thiếu phần tàn bạo.

    Type-52 Pistol (Mauler)

    [​IMG]

    Kích thước: Cầm một tay
    Sát thương: Trung bình, cao
    Băng đạn: 5 viên
    Tốc độ: Vừa
    Chính xác: Thấp đến trung bình
    Tầm xa: Ngắn


    Được loài Brute mang nhiệm vụ an ninh sử dụng, xem như là một “mini” shotgun. Chỉ thật hiệu quả khi đối đầu với loài Flood hay khi đối phương áp sát. Nếu nhìn đối diện khẩu “mini” này trông giống như một cái nắm đấm.

    FORERUNNER

    Sentinel Beam

    [​IMG]

    Chủng loại: Directed Energy Weapon
    Kích thước: Cầm hai tay
    Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng
    Chế độ: Bắn liên tục
    Đạn: Tia màu vàng cam (Minor) và tia màu xanh dương (Major)
    Chính xác: Rất cao
    Tầm xa: Trung bình đến xa


    Đây là vũ khí của người Forerunner dùng để chống lại loài Flood. Nó được gắn trên các Sentinel. Khi các Sentinel bị hạ, có thể lấy nó ra và sử dụng như một vũ khí đắc lực để chống lại loài Flood.
     
  16. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    THIẾT BỊ HỖ TRỢ

    Bubble Shield

    [​IMG]

    Khối lượng: 20,5 kg (45,1 lbs)

    Đây là thiết bị phòng thủ chống lại hoả lực và pháo kích trong thời gian ngắn. Ta đã thấy cái này hoạt động rất ấn tượng trong trailer Starry Night. Thực chất thiết bị này là do ONI (một tổ chức thuộc chi nhánh của UNSC) sáng chế ra nhưng lại được loài Brute của Covenant sử dụng. Khi được kích hoạt, nó sẽ tạo ra một lớp giáp hình cầu màu vàng có thể chống đỡ rất nhiều loại vũ khí trong suốt 20 giây.

    Power Drain

    [​IMG]

    Khối lượng: 5,1 kg (11,2 lbs)

    Một thiết bị vô cùng lợi hại của loài Brute. Khi kích hoạt, nó sẽ tạo ra xung điện từ gây thiệt hại cho các thiết bị điện tử như các phương tiện khí tài và giáp. Các phương tiện sẽ không di chuyển được và giáp bị giảm xuống đáng kể.

    Trip Mine

    [​IMG]

    Khối lượng: 9,7 kilograms (21,4 lbs)

    Một loài mìn cá nhân của UNSC. Nó chứa một lượng lớn chất nổ đủ để khiến cho một số phương tiện cơ giới bay lên trời. Tuy nhiên nó lại dễ bị nhận ra do ánh sáng và âm thanh của nó. Nó có thể cảm nhận các chuyển động trong vòng bán kính 5m rồi phát nổ sau khi được kích hoạt. Có một cách để đi qua nó là ngồi xuống từ từ bước qua nhưng cách này lại khá mạo hiểm nếu đối phương phát hiện ra mìn.

    Portable Gravity Lift

    [​IMG]

    Khối lượng: 19,6 kg (43,2 lbs)

    Xuất hiện lần đầu tiên trong Halo 3. Đây là một thiết bị vô cùng thú vị, nó có thể nâng mọi thứ lên không trung, phản trọng lực. Trong Multiplayer thì nó thật sự hữu dụng, nó có thể cứu người chơi khỏi cú húc của các phương tiện cũng như lừa tay lái xe hất một phát lên trời.

    Radar Jammer

    [​IMG]

    Khối lượng: 9,3 kg (20.5 lbs)

    Được bọn Brute làm ra, đây là một thiết bị cũng rất hữu dụng. Khi kích hoạt, nó sẽ gây nhiễu Motion Sensor bằng hàng loạt các dấu chấm trên Radar, nhưng có điều cả đồng đội ... cũng sẽ bị.

    Flare

    [​IMG]

    Khối lượng: 3,1 kg (6,82 lbs)

    Đây là pháo sáng của loài Brute, rất tốt khi tiếp cận với số đông. Nó có thể làm loá mắt đối phương trong vòng 4s, nếu được hãy ném cùng thêm một quả lựu đạn. Thêm đó là nó phát ra âm thanh tần số cao có thể át mọi âm thanh xung quanh. Tuy nhiên khi bị loá mắt thì đối phương vẫn có thể dùng Radar được.

    Regenerator

    [​IMG]

    Khối lượng: 20,1 kg (44,3 lbs)

    Sau khi được kích hoạt nó sẽ hoạt động trong 15s để hồi giáp cho người dùng. Dù chúng được loài Brute sử dụng như thực chất thiết bị này là do UNSC chế tạo.

    Deployable Cover

    [​IMG]

    Một thiết bị vô cùng ấn tượng. Sau khi kích hoạt nó sẽ tạo ra một tấm khiên năng lượng có thể chịu đựng được một lượng lớn sát thương suốt 30s. Thiết bị này có thể cứu người chơi trong tích tắc có thể lừa tay lái xe lọt vào bẫy. Nó còn có thể chống chọi lại với Sniper.

    Invincibility

    [​IMG]

    Bọn Brute Chieftan thường hay xài thứ này. Khi kích hoạt nó sẽ giúp cho người dùng bất tử trong vòng 10s. Tuy nhiên vẫn chết khi bị tấn công sau lưng, té từ trên cao hay bị xe cán. Đây là thiết bị tốt cho kế sách” Tẩu vi thượng sách”.

    Automated Turret

    [​IMG]

    Nó được người Forerunner cổ xưa chế tạo ra. Khi đặt nó vào một vị trí nó có nhiệm vụ tự động bắn đối phương giúp đỡ người chơi. Dù sát thương rất cao nhưng nó nạp đạn lâu (3s) Thêm một khuyết điểm nữa là nó xoay có giới hạn nên khi vượt quá tầm của nó thì nó không khác gì ... đồ ve chai.

    Cloaking

    [​IMG]

    Khi kích hoạt thiết bị này, nó sẽ giúp cho người chơi tàng hình trong vòng 12s. Rất thích hợp cho việc ám sát nhanh hay trốn thoát. Khi đã tàng hình thì đối phương không thể thấy được người dùng nhưng một khi người dùng trúng đạn thì hình ảnh họ sẽ hiện ra dần dần.

    Active Camouflage

    [​IMG]

    Chỉ xuất hiện trong Multiplayer. Nó giúp người sử dụng tàng hình trong một thời gian dài. Khi bị trúng đạn hình ảnh của người chơi sẽ hiện ra nhưng lúc sau tàng hình trở lại.

    Overshield

    [​IMG]

    Thiết kế không khác Active Camouflage chỉ trừ màu sắc. Thiết bị này giúp người chơi có thêm một lớp giáp nữa, khi đó cây giáp này sẽ được biểu thị màu khác. Khi bị tấn công giáp sẽ giảm dần và không phục hồi.

    Custom Power Up

    [​IMG]

    Mang cả hai công năng của Overshield và Active Camouflage (Tàng hình và thêm giáp)
     
  17. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    PHƯƠNG TIỆN CƠ GIỚI

    UNSC

    M312 Elephant HRV (Elephant)

    [​IMG]

    Chủng loại: Mobile Assault, Support and Recovery Platform
    Vận tốc: 3,6 km/ h
    Trang bị: 1 M41 Light Anti-Aircraft Gun, 1 AIE-486H Heavy Machine Gun
    Sức chứa người: 1 tài xế, 2 súng máy, 12 – 16 người
    Sức chứa phương tiện cơ giới: 6 Mongoose, 2 Warthog, 1 Scorpion, 1 Wraith, 2 Chopper, 1 Hornet, 1 Banshee


    Là phương tiện chuyên chở hạng nặng bằng đường bộ của UNSC. Nó có thể chuyên chở một khối lượng rất lớn đến chiến trường. Ngoại trừ chứa 6 Mongoose thì các phương tiện còn lại ở trên chứa được là do sử dụng chương trình Forge. Trang bị cho nó là 2 khẩu súng máy. Mặc dù thế nhưng tốc độ của nó lại khá chậm, một điểm hơi bất cập. Nếu có thể lật được Elephant thì thay vì bình thường game hiện lên: Hold RB to flip "tên phương tiện" nó sẽ thành: Hold RB to flip...wait, what? How did you do that?

    AV-14 Hornet (Hornet)

    [​IMG]

    Chủng loại: Close Air Support
    Trang bị: 2 Class-2 Guided Munition Launch System, 2 Missile Launcher, 3 AIE-486H Heavy Machine Gun
    Sức chứa: 1 phi công, 2 Spartan hoặc 2 Elite hay 4 Marine


    Đây là loại máy bay chiến đấu cá nhân của UNSC, nó được dùng để chống lại các Banshee của Covenant. Chiếc máy bay này được trang bị vũ khí rất nhiều và có khả năng chuyên chở hạng nhẹ. Chính vì thế mà nó rất được các người lính ưa dùng.

    M12 Warthog LRV (Chaingun Warthog)

    [​IMG]

    Chiều dài: 6,1 m (20 ft)
    Chiều rộng: 3,2 m (10,5 ft)
    Chiều cao: 3 m (9,75 ft)
    Khối lượng: 3,25 tấn
    Trạng bị: 1 Light Anti-Aircraft Gun
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 súng máy, 1 trợ lái

    Loại phương tiện vô cùng quen thuộc của Halo. Những xe thuộc dòng xe Warthog đều có bộ truyền động 4 bánh và khả năng bẻ lái cho cả 4 bánh xe. Với chiếc xe được mệnh danh là “xe Jeep của thế kỉ 26” này thì có thể lăn bánh trên mọi nẻo đường. Chiếc xe được coi như là một phần không thể thiếu trong mọi trận chiến.

    M12G1 Warthog LAAV (Gauss Warthog)

    [​IMG]

    Chủng loại: Light Anti-Armor Vehicle
    Chiều dài: 6 m (19,7 ft)
    Khối lượng: 3,5 tấn
    Trang bị: 1 Gauss Cannon
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 súng máy, 1 trợ lái


    Một phiên bản của dòng xe Warthog. Đây là phiên bản không khác với Chaingun Warthog chỉ trừ nó được trang bị Gauss Cannon thay cho Light Anti-Aircraft Gun.

    M831 Troop Transport (Troop Transport Warthog)

    [​IMG]

    Chủng loại: Light troop transport
    Chiều rộng: 3 m (9,75 ft)
    Khối lượng: 6 tấn
    Vận tốc: 125 km/ h
    Sức chứa: 1 tài xế, 4 trợ lái


    Cũng là một phiên bản khác của Warthog. Nhờ vào bộ truyền động 4 bánh và khả năng bẻ lái cho cả 4 bánh xe khiến nó có thể chinh phục mọi nẻo đường nên phiên bản này được ra đời. Giáp của xe được cải thiện đáng kể và có thể chứa được thêm 3 người hỗ trợ ở phía sau, không trang bị vũ khí. Chiếc xe này chỉ có trong phần chơi Campaign.

    M274 Mongoose ULATV (Mongoose)

    [​IMG]

    Chủng loại: Ultra-Light All-Terrain Vehicle
    Khối lượng: 896 lbs (406 kg)
    Vận tốc: 96 km/ h
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 trợ lái


    Phương tiện di chuyển trên bộ hạng nhẹ của UNSC. Điểm nổi bật duy nhất của nó là tốc độ nên nhà thiết kế đã cho chiếc xe này có thể chở thêm một người hỗ trợ nữa với vũ khí tự chọn. Cái tên Mongoose theo tiếng anh có nghĩa là cầy mangut, một loài động vật có thân pháp rất nhanh nhẹn.
     
    Last edited by a moderator: 12/7/09
  18. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    M808B Scorpion MBT (Scorpion)

    [​IMG]

    Chủng loại: Main Battle Tank
    Chiều dài: 10 m (32,8 ft)
    Chiều rộng: 3 m (9,84 ft)
    Khối lượng: 66 tấn
    Vận tốc: 9 km/ h
    Trang bị: 1 90mm High Velocity Cannon, 1 Medium Machine Gun
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 súng máy, 4 trợ lái


    Đúng như tên gọi Scorpion có nghĩa là con bò cạp, chiếc xe tăng này được thiết kế giống như con bò cạp. Đuôi bò cạp có mũi kim chứa nọc độc thì “cái đuôi” của xe tăng chính là khẩu pháo 90mm High Velocity Cannon đầy uy lực. Đây thực sự là một nỗi sợ lớn cho bộ binh với hỏa lực mạnh mẽ và khả năng di chuyển khá. Một điểm của Scorpion khác với các phần trước là mỗi khi bắn pháo thì xe tăng sẽ bị giật lùi.

    UNSC Forward Unto Dawn

    [​IMG]

    Chủng loại: Frigate
    Chiều dài: 489,8 m
    Chiều rộng: 155,2 m
    Chiều cao: 139,2 m
    Vận tốc: 2,1 light-years/ day
    Trang bị: 1 MAC Gun, Archer Missile, 3 Nuclear missiles, 4 2x 50mm point defense gun
    Sức chứa người: 75 lính hải quân, 1 Spartan, 15 sĩ quan Marine, 600 Marine, 130 ODST
    Sức chứa phương tiện cơ giới: 4 Scorpion, 3 Gauss Warthog, 9 Warthog, 1 M831 Troop Transport Warthog, 3 Mongoose, 25 Hornet, 7 Pelican, 5 Longsword, 12 HEV, 3 Cryo-chamber, 12 Escape pod


    Là loại tàu chiến chuyên dụng của UNSC, dù được trang bị không tốt như anh em Destroyer của nó nhưng với chi phí sản xuất ít hơn nên được sử dụng nhiều hơn – lấy sống đông áp đảo. Đây là con tàu mà Master Chief và Cortana bị kẹt ở lại trôi đi trong vũ trụ.

    UNSC Aegis Fate

    [​IMG]

    Chủng loại: Frigate
    Chiều dài: 478 m (1568 ft)
    Chiều rộng: 151,9 m (498 ft)
    Chiều cao: 112,2 m (396 ft)
    Vận tốc: 2,1 light-years/ day
    Trang bị: 1 MAC Gun, 3 Shiva Nuclear Warhead Missile, 4 2x50mm point defense gun, Archer Missile


    Đây là một phiên bản khác của Forward Unto Dawn nên nhiều khi nhìn tưởng 2 tàu này là một. Nó xuất hiện trong đoạn cutsence có một đội tàu tấn công Prophet of Truth đang bay đến The Ark.

    D77H-TCI Pelican Dropship (Pelican)

    [​IMG]

    Chủng loại: Dropship/ Gunship
    Chiều dài: 30,5 m (100,3 ft)
    Chiều rộng: 23,5 m (76,9 ft)
    Chiều cao: 10 m (35,9 ft)
    Trang bị: 1 Chin-mounted Rotary-cannon, 2 ANVIL-II ASM Pods, 1 AIE-486H HMG
    Sức chứa người: 1 phi công, 1 phi công phụ, 1 chỉ huy, 1 AI, 10 người ngồi hoặc 15 người đứng
    Sức chứa phương tiện cơ giới: 1 Scorpion hay 1 Warthog hoặc 4 – 6 Resupply Canister Type-C Capsule cùng với 2 Mongoose


    Một phương tiện rất quen thuộc. Nó là một loại máy bay chuyên chở vô cùng đa năng và linh hoạt. Nó có thể nhanh chóng giúp đỡ các người lính rút quân trong nháy mắt hay tiếp tế vũ khí, phương tiện cơ giới cùng chỡ lính đến chiến trường mau lẹ. Một điểm đặc biệt là nó có thể chiến đấu rất tốt. Nó còn có thể bay trong không gian nhưng lại không thể bay trong Slipspace.

    Albatross Heavy Dropship (Albatross)

    [​IMG]

    Chủng loại: Heavy Dropship
    Chiều dài: 36,8 m (120 ft 9 in)


    Có rất ít thông tin về loại tàu này. Đây là một loại tàu chuyên chở hạng nặng của UNSC. Nó chỉ có một khoang duy nhất và thường chở các phương tiện cơ giới, đặc biệt là các phương tiện cỡ hạng nặng.

    C709 Longsword Fighter-Interceptor (Longsword)

    [​IMG]

    Chủng loại: Starfighter/ Bomber/ Interceptor
    Chiều dài: 64 m (210 ft)
    Chiều rộng: 75 m (245,9 ft)
    Chiều cao: 12,9 m (42,3 ft)
    Trang bị: 110mm Rotary Cannon, 120mm Ventral Gun, 4 ASGM-10 Missile, 1 Shiva-class Nuclear Missile, Moray Space Mine System
    Sức chứa: 1 phi công, 1 phi công phụ, 2 kĩ thuật máy


    Xuất hiện lần đầu trong Halo: Combat Evolved, đây là con tàu mà Master Chief và Cortana trốn ra khỏi Installation 04. Nó rất đa năng: ném bom, đánh chặn, chiến đấu trong không gian. Khác với 2 phần trước, Longsword chỉ còn có 2 động cơ thay vì 4. Ngoài ra có những chiếc có khả năng bay trong Slipspace.
     
  19. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    COVENANT

    Type-26 Ground Support Aircraft (Banshee)

    [​IMG]

    Chủng loại: Ground Support Aircraft
    Chiều dài: 5,5 m (18,1 ft)
    Khối lượng: 2,25 tấn
    Vận tốc: 100 km/ h
    Trang bị: Twin Plasma Cannon, Fuel Rod Cannon
    Sức chứa: 1 phi công


    Rất quen thuộc trong dòng game Halo. Đây là máy bay cá nhân đối đất của Covenant. Với vận tốc tối đa lên tới 100 km/ h nó thực sự là một đối thủ đáng gờm. Dù thể nhưng nó cũng là một món mồi ngon cho các vũ khí đối không. Một điểm nữa là khi bay thẳng xuống dưới mà đang ở vị trí thấp, nó có thể là tự sát.

    Type-32 Rapid Assault Vehicle (Ghost)

    [​IMG]

    Chiều dài: 4,2 m (12 ft)
    Khối lượng: 2,25 tấn
    Vận tốc: 60km/h
    Trang bị: Twin Plasma Cannon
    Sức chứa: 1 tài xế


    Cũng rất quen thuộc với fan game Halo. Đây thực sự là một phương tiện rất đặc biệt: có một nguồn động cơ tự tái chế được (công nghệ tiên tiến nhất Covenant) Ghost là nỗi sợ hãi cho bộ binh loài người do nó nổi tiếng với khả năng “đánh nhanh rút gọn”. Tuy nhiên nó chỉ hiệu quả với số đông.

    Type-25 Wraith (Wraith)

    [​IMG]

    Chủng loại: Infantry Tank
    Chiều dài: 8,7 m (28,6 ft)
    Chiều rộng: 3,6 m (12 ft)
    Chiều cao: 3 m (10 ft)
    Khối lượng: 57 tấn
    Vận tốc: 9 km/ h
    Trang bị: Plasma Mortar, Plasma Turret
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 súng máy


    Xe tăng của Covenant, còn được biết đến với cái tên Wraith. Nó tương đương như Scorpion của UNSC, chính vì vậy nó cũng là một nỗi kih hoàng cho bộ binh. Được trang bị Plasma Mortar là vũ khí đối đất khủng nhất, nó có thể thổi bay mọi thứ trên mặt đất. Trong trailer Starry Night ta thấy được Master Chief dùng Bubble Shield để tránh những phát đạn của Plasma Mortar.

    Type-52 Anti-Aircraft Artillery (Anti Air Wraith)

    [​IMG]

    Chủng loại: Mobile Anti-Aircraft
    Chiều dài: 8,8 m (28,9 ft)
    Chiều rộng: 3 m (12 ft )
    Chiều cao: 4,7 m
    Khối lượng: 55 – 75 tấn
    Vận tốc: 9 km/ h
    Trang bị: Fuel Rod Cannon, Plasma Turret
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 súng máy


    Có cùng kiểu dáng với chiếc Wraith, cả 2 là anh em với nhau. Wraith là xe tăng đối đất thì Anti Air Wraith lại là xe tăng đối không . Vì điểm khác là công năng nên vũ khí cũng có phần khác, thay cho Plasma Mortar của Wraith thì giờ đây là Fuel Rod Cannon với sức công khá vô cùng cao khiến cho các phi công phải luôn thận trọng canh chừng.

    Type-25 Rapid Assault Vehicle (Chopper)

    [​IMG]

    Chủng loại: Hovercraft
    Chiều dài: 6,4 m (21 ft)
    Chiều rộng: 2,8 m (9,33 ft)
    Chiều cao: 2,9 m (9,77 ft)
    Khối lượng: 1,1 tấn
    Vận tốc: 74 km/ h
    Trang bị: 4 35mm Autocannon, Bladed chassis
    Sức chứa: 1 tài xế


    Được loài Brute sử dụng. Thoáng nhìn Chopper ta thấy nó có gì đó giống Ghost, nhưng Chopper đồ sộ và lợi hại hơn rất nhiều. Phía trước là 2 bánh xe to tổ chảng giúp nó có thể thăng bằng khi di chuyển. Loài Brute gọi Chopper là phương tiện chống lại mọi thứ ("Anti-Anything" vehicle)

    Type-52 Infantry Support Vehicle (Prowler)

    [​IMG]

    Chủng loại: Ground vehicle
    Trang bị: Plasma Turret, Spike
    Sức chứa: 1 tài xế, 1 súng máy, 2 trợ lái


    Một phương tiện khác của loài Brute. Đây là phương tiện giúp cho cả nhóm hỗ trợ với nhau rất tốt: 1 người lái, 1 người dùng súng máy, còn 2 người kia ở 2 bên bắn yểm trợ. Plasma Turret có thể xoay 360 độ giúp cho chiếc xe tăng thêm tính cơ động và linh hoạt. Prowler tương tự như Warthog của UNSC và Spectre (Halo 2) của Convenant.
     
  20. Kenny Phung

    Kenny Phung Chief Petty Officer
    Tham gia ngày: 16/2/08
    Bài viết: 2,632
    Đã được thích: 1
    Điểm thưởng: 40
    Điểm thành tích: 0
    Người quan tâm: 3

    Assault Carrier

    [​IMG]

    Chủng loại: Carrier
    Chiều dài: 5.346 m (17.540 ft)
    Chiều rộng: Hơn 862 m
    Chiều cao: Hơn 700 m
    Vận tốc: 912 light-years/ day
    Trang bị: Pulse laser turret, Energy Projector, Plasma Torpedo
    Sức chứa phương tiện cơ giới: Hàng trăm phương tiện cơ giới của Covenant lẫn UNSC, 2 tàu UNSC Frigate


    Đây là tàu chuyên chở thuộc hàng “vô cùng khủng” Covenant. Với chiều dài gần 5,5 cây số, các loại tàu hiện đại, đồ sộ nhất của con người cũng phải gọi bằng “cụ”. Trong quân đội của Covenant, Assault Carrier không thể thiếu trong mọi trận đánh, có số lượng rất nhiều. Còn với UNSC Colony Ship là tàu lớn nhất nhưng chỉ dài 2,5 km mà có số khá giới hạn. Nó có thể chứa một lượng lính cùng phương tiện cơ giới khổng lồ.

    CCS-class Battlecruiser

    [​IMG]

    Chủng loại: CCS-class
    Chiều dài: 1.782,2 m (5.847,1 ft)
    Chiều rộng: 861,7 m (2.827,1 ft)
    Chiều cao: 230,8 m (757,2 ft)
    Vận tốc: 3,2 light years/ day
    Trang bị: Pulse Laser, Plasma Turret, Energy Projector, Plasma torpedo


    Một loại tàu chiến thường thấy của Covenant. Trước đây nó chỉ mang nhiệm vụ vận chuyển cho mặt trận dưới đất. Nhưng khi được trang bị vũ khí, nó cũng đã cho thấy khả năng chiến đấu tuyệt vời của nó, đặc biệt là vũ khí được gọi với cái tên Plasma Bombardment. Trong các trận chiến không thể thiếu loại tàu này.

    Seraph Fighter-Interceptor (Seraph)

    [​IMG]

    Chủng loại: Starfighter
    Chiều dài: 27,8 m (91,3 ft)
    Trang bị: Heavy Plasma Cannon, Pulse Laser, Plasma Charge
    Sức chứa: 1 phi công, 1 phi công phụ


    Tàu chiến thông dụng của Covenant. Tương tự như Longsword của UNSC: ném bom, đánh chặn, chiến đấu trong không gian. Tuy nhiên nó lại không thể di chuyển trong Slipspace. Nếu Seraph đi chung với số lượng lớn, chúng sẽ là một trở ngại khôn lường.

    Type-47 Ultra Heavy Assault Platform (Scarab)

    [​IMG]

    Chủng loại: Ultra Heavy Assault Platform
    Chiều dài: 64,8 m (212 ft)
    Chiều rộng: 88,8 m (292 ft)
    Chiều cao: 57 m (183 ft)
    Trang bị: Main Cannon, Anti-Aircraft Turret, Plasma Cannon
    Sức chứa: 1 chỉ huy, một đàn Lekgolo Worm, lính bảo vệ Scarab


    Bé bự của Covenant. Kích thước to lớn cùng vũ khí “khủng” biến nó thành một nỗi sợ khủng khiếp cho bộ binh. So với Halo 2 thì đã có nhiều thay đổi: vũ khí, màu sắc, kích thước. Một điểm thú vị là Scarab được điều khiển bởi một đàn Lekgolo Worm, loại sinh vật có hình dáng như con sâu có thể tập hợp lại thành cá thể Hunter – một loài của Covenant. Lúc này đàn Lekgolo Worm trở nên yếu nên chúng có một lớp giáp bảo vệ riêng ở bên trong Scarab.

    Type-52 Troop Carrier (Phantom)

    [​IMG]

    Sức chứa: 1 phi công, 1 phi công phụ, 1 súng máy hạng nặng, 2 súng máy hạng nhẹ, 24 người

    Phương tiện chuyên chở của Covenant, tương tự như Pelican của UNSC. Tuy nhiên nó lại có thể chở nhiều hơn. Loại phương tiện này có 2 màu sắc tượng trưng cho 2 phe của Covenant: xanh lục là phe Separatists còn xanh dương là Loyalists. Ngoài nhiệm vụ chuyên chở là chính, đôi khi nó có thể hỗ trợ tấn công cũng khá tốt.

    FORERUNNER

    Dreadnought

    [​IMG]

    Chủng loại: Forerunner Dreadnought
    Chiều dài: 11,41 km
    Chiều rộng: 13,18 km
    Chiều cao: 14 km
    Khối lượng: 37.654 tấn


    Còn được gọi là Keyship. Là tàu chiến của người Forerunner đã sử dụng trong cuộc chiến Forerunner – Flood. Vũ khí, máy móc trang bị cho con tàu này còn rất mù mờ, gần như là không biết. Nó là phương tiện duy nhất có thể dẫn đến vị trí vũ khí tối thượng của người Forerunner – các Installation. Nó đã được Master Chief và Prophet of Truth sử dụng trong Halo 2 và Halo 3.